Kāṇā draft

Kāṇā. Daughter of Kāṇamātā. After she married she visited her mother, and one day, while she was there, her husband sent for her. Her mother, not wishing her to return empty-handed, asked her to wait till she had made some cakes. When the cakes were ready, a monk came to the door and Kāṇā gave him some. Four other monks came, and the cakes were finished. Four times Kāṇā’s husband sent for her and four times the same thing happened. So, in anger, the husband took another wife. Kāṇā, learning this, was so greatly annoyed that she reviled and abused every monk she saw until no monk dared go into her street. The Buddha, hearing of this, visited Kāṇā’s mother, and having finished his meal there, sent for Kāṇā, argued with her, and convinced her that the monks were not to blame inasmuch as they had only taken what was given them. At the end of the Buddha’s discourse Kāṇā became a Sotāpanna. The king saw the Buddha returning from Kāṇā’s home and, on learning what had happened, sent for her, adopted her as his daughter, and arranged for her marriage with a rich nobleman. Thenceforward Kāṇā’s generosity to the monks became proverbial. Vin.iv.78f; Dhp­a.ii.149ff; the Samantapāsādikā (iv.819) gives a somewhat different account; there, when Kāṇā’s husband heard that the Buddha had been to see her, he sent for her and she returned.

It was on Kāṇā’s account that the Babbujātaka (q.v., Ja.i.477f) was preached. Kāṇā is identified with the mouse of the story.

She was called Kāṇā because she was so beautiful that those who saw her became blind with passion for her (ye ye taṁ passanti, te te rāgena kāṇā honti) (Vin-a.loc.cit.).

Both Kāṇā and her mother are mentioned among those who kept the eightfold fast. AN.iv.349; AN­a.ii.791.

Kāṇā. Con gái của Kāṇamātā. Sau khi kết hôn, cô đã đến thăm mẹ mình, và một ngày nọ, trong lúc cô ở đó, chồng cô đã sai người đến gọi cô về. Mẹ cô, không muốn cô trở về tay không, đã bảo cô đợi cho đến khi bà làm xong một ít bánh. Khi những chiếc bánh đã sẵn sàng, một vị tỳ-kheo đi đến cửa và Kāṇā đã biếu vị ấy một ít. Bốn tỳ-kheo khác đến, và những chiếc bánh đã hết sạch. Bốn lần chồng của Kāṇā sai người đến gọi cô và bốn lần sự việc tương tự lại xảy ra. Vì vậy, trong cơn tức giận, người chồng đã cưới một người vợ khác. Kāṇā, khi biết điều này, đã vô cùng bực tức đến mức cô đã mắng nhiếc và nhục mạ mọi tỳ-kheo mà cô nhìn thấy cho đến khi không có tỳ-kheo nào dám đi vào con đường của cô nữa. Đức Phật, nghe nói về chuyện này, đã đến thăm mẹ của Kāṇā, và sau khi dùng xong bữa ăn ở đó, ngài đã cho gọi Kāṇā đến, lập luận với cô, và thuyết phục cô rằng các tỳ-kheo không có lỗi vì họ chỉ nhận những gì được biếu cho họ. Vào cuối bài pháp của Đức Phật, Kāṇā đã trở thành một bậc Dự lưu (Sotāpanna). Nhà vua nhìn thấy Đức Phật trở về từ nhà của Kāṇā và, khi biết được những gì đã xảy ra, ngài đã cho gọi cô đến, nhận cô làm con gái nuôi của mình, và sắp xếp cho cô kết hôn với một nhà quý tộc giàu có. Từ đó về sau, sự hào phóng của Kāṇā đối với các tỳ-kheo đã trở thành một câu nói cửa miệng. Vin.iv.78f; Dhp­a.ii.149ff; Samantapāsādikā (iv.819) đưa ra một lời kể hơi khác; ở đó, khi chồng của Kāṇā nghe nói rằng Đức Phật đã đến gặp cô, anh ta đã cho người đến gọi cô và cô đã trở về.

Chính vì Kāṇā mà Babbujātaka (xem bài này, Ja.i.477f) đã được thuyết giảng. Kāṇā được đồng nhất với con chuột trong câu chuyện.

Cô được gọi là Kāṇā vì cô xinh đẹp đến mức những ai nhìn thấy cô đều trở nên mù quáng vì say đắm cô (ye ye taṁ passanti, te te rāgena kāṇā honti) (Vin-a.sđd.).

Cả Kāṇā và mẹ cô đều được nhắc đến trong số những người đã giữ giới Bát quan trai. AN.iv.349; AN­a.ii.791.