Jiṇṇasutta draft

01. Jiṇṇasutta 01 draft

Jiṇṇasutta 01. Two very old Brahmins visit the Buddha and ask him for a teaching to cheer and comfort them. He tells them to practise self-restraint in all things. AN.i.155.

Jiṇṇasutta 01. Hai vị Bà-la-môn rất già đến thăm Đức Phật và thỉnh cầu Ngài một lời dạy để cổ vũ và an ủi họ. Ngài bảo họ hãy thực hành sự tự kiềm chế trong mọi việc. AN.i.155.

02. Jiṇṇasutta 02 draft

Jiṇṇasutta 02. Similar to the above. The Buddha tells them that the whole world is being burned by old age and death and that only what is saved will be useful. Meritorious deeds brings happiness after death. AN.i.156.

Jiṇṇasutta 02. Tương tự như trên. Đức Phật bảo họ rằng toàn bộ thế giới đang bị thiêu rụi bởi tuổi già và cái chết và rằng chỉ có những gì được gìn giữ mới là hữu ích. Những việc làm công đức mang lại hạnh phúc sau khi chết. AN.i.156.

03. Jiṇṇasutta 03 draft

Jiṇṇasutta 03. Mahā Kassapa visits the Buddha at Rājagaha. The Buddha suggests that now that he is very old he should give up wearing cast-off rag robes and dwelling in the forest, and should enjoy the gifts given to him by householders. Kassapa refuses to give up his long-established austere habits of life. Being asked the reason for this method of life, Kassapa answers that it is for his own happiness and out of compassion for those that come after (SN.ii.202). The Commentary adds that the Buddha asked the question in order to give Kassapa an opportunity for his “lion’s roar” (Kassapasīhanāda) (SN­a.ii.128).

Jiṇṇasutta 03. Mahā Kassapa đến thăm Đức Phật tại Rājagaha. Đức Phật đề nghị rằng giờ đây khi ông đã rất già, ông nên từ bỏ việc mặc những y phấn tảo nhặt được và sống trong rừng, và nên thọ nhận những món quà do các gia chủ cúng dường cho ông. Kassapa từ chối từ bỏ những thói quen sống khổ hạnh đã được thiết lập từ lâu của mình. Khi được hỏi lý do cho phương pháp sống này, Kassapa trả lời rằng điều đó là vì hạnh phúc của chính ông và vì lòng từ bi đối với những người đi sau (SN.ii.202). Bản chú giải nói thêm rằng Đức Phật đã hỏi câu hỏi này nhằm cho Kassapa một cơ hội cho "tiếng rống của sư tử" của ông (Kassapasīhanāda) (SN­a.ii.128).