Mahā Rāhulovādasutta draft
Mahā Rāhulovādasutta. The Buddha and Rāhula are on their way to the village for alms, and the Buddha tells Rāhula that all rūpa should be regarded as anatta, and not only rūpa, but also the other khandhas. Rāhula stops and sits under a tree meditating. Sāriputta approaches and suggests that he should develop ānāpānasati. Later in the evening Rāhula asks the Buddha how he can do this. The Buddha describes how it is done by regarding all the elements: earth, water, fire, air and space, both personal and external with disgust and loathing of heart. One should not allow sensory impressions to lay hold of one’s heart, just as the earth remains impassive whatever may be thrown upon it. It is so with the other elements. One should grow in loving-kindness, compassion, in gladness over the welfare of others, in equanimity, contemplation of the body’s corruption, perception of the fleeting nature of things, and in the mindfulness which comes from ordered breathing. MN.i.420-6; it is perhaps a part of this Sutta which is quoted at Mil. 385, 388; see Mil. Trs.ii.312, n.1.
Mahā Rāhulovādasutta. Đức Phật và Rāhula đang trên đường đến làng để khất thực, và Đức Phật nói với Rāhula rằng tất cả rūpa nên được quán chiếu là anatta (vô ngã), và không chỉ rūpa, mà cả những khandha (uẩn) khác cũng vậy. Rāhula dừng lại và ngồi xuống dưới một cái cây để thiền định. Sāriputta đi đến gần và gợi ý rằng ông nên phát triển ānāpānasati (niệm hơi thở). Tối hôm đó, Rāhula hỏi Đức Phật làm thế nào ông có thể làm được điều này. Đức Phật mô tả cách thực hành điều đó bằng việc quán chiếu tất cả các đại: đất, nước, lửa, gió và hư không, cả bên trong thân và bên ngoài bằng sự ghê tởm và nhàm chán của tâm. Một người không nên để những ấn tượng của các giác quan chiếm đoạt tâm mình, giống như đất vẫn thản nhiên bất kể thứ gì có thể bị ném lên đó. Với những đại khác cũng vậy. Một người nên tu tập lòng từ, bi, hỷ đối với hạnh phúc của người khác, xả, quán chiếu sự thối rữa của cơ thể, nhận thức về bản chất vô thường của vạn pháp, và chánh niệm sinh ra từ việc kiểm soát hơi thở theo trật tự. MN.i.420-6; có lẽ một phần của bài Sutta này đã được trích dẫn ở Mil. 385, 388; xem Mil. Trs.ii.312, n.1.