Māluṅkyāputta Thera draft
Māluṅkyāputta Thera (v.l. Māluṅkyaputta, Mālukyaputta). Son of the assessor (agghāpanika) of the king of Kosala, his mother being Māluṅkyā. He was religious by nature, and, when he came of age, became a Paribbājaka. Later, he heard the Buddha preach and joined the Saṅgha, becoming an Arahant (Thaga.i.446f). The Theragāthā contains two sets of verses attributed to him: one (vv. 399-404) spoken on his visit to his home after attaining Arahant-ship when his people tried to lure him back by a great display of hospitality; the other in connection with a brief sermon preached to him by the Buddha before he became an Arahant, vv. 794-817; the reference is probably to the Māluṅkyāputtasutta of AN.ii.248; see also SN.iv.72, where the verses are quoted in full.
The Thera asked the Buddha for a doctrine in brief and the Buddha gave him one. The verses contain a detailed account of the stanzas which were only outlined to him by the Buddha. There the monk is described as a broken down old man, far on in years. The Commentators (ANa.ii.582 and SNa.iii.20) add that he had, in his youth, neglected the detailed teaching and fallen back, through love of possessions.
In the Majjhimanikāya are two Suttas – the Cūḷa Māluṅkyā and the Mahā Māluṅkyā (this is referred to at Mil. 144) – both evidently preached before Māluṅkyāputta’s attainment of Arahant-ship, because in both the Buddha speaks disparagingly of him.
Māluṅkyāputta Thera (v.l. Māluṅkyaputta, Mālukyaputta). Con trai của một viên quan thẩm định (agghāpanika) của vua xứ Kosala, mẹ ngài là Māluṅkyā. Ngài có bản chất mộ đạo, và, khi đến tuổi trưởng thành, đã trở thành một Paribbājaka (Đạo sĩ lang thang). Sau đó, ngài nghe Đức Phật thuyết pháp và đã gia nhập Tăng đoàn, trở thành một Arahant (Thaga.i.446f). Theragāthā chứa hai tập bài kệ được gán cho ngài: một tập (các câu 399-404) được nói trong chuyến thăm nhà của ngài sau khi đạt quả vị Arahant khi những người thân của ngài cố gắng dụ dỗ ngài quay về bằng cách bày biện một sự hiếu khách xa hoa; tập còn lại liên quan đến một bài pháp ngắn được Đức Phật thuyết cho ngài trước khi ngài trở thành một Arahant, các câu 794-817; sự đề cập này có lẽ nói đến Māluṅkyāputtasutta thuộc AN.ii.248; cũng xem SN.iv.72, nơi các bài kệ được trích dẫn đầy đủ.
Vị Trưởng lão đã yêu cầu Đức Phật chỉ dạy một giáo lý tóm tắt và Đức Phật đã dạy cho ngài một giáo lý như vậy. Các bài kệ chứa đựng một bản tường thuật chi tiết về các câu kệ mà Đức Phật chỉ phác thảo cho ngài. Tại đó, vị Tỳ-kheo được mô tả như một ông già ốm yếu, đã lớn tuổi. Các nhà Chú giải (ANa.ii.582 và SNa.iii.20) bổ sung thêm rằng ngài, khi còn trẻ, đã phớt lờ những lời dạy chi tiết và thối thất do tham luyến tài vật.
Trong Majjhimanikāya có hai Sutta – Cūḷa Māluṅkyā và Mahā Māluṅkyā (bài này được nhắc đến tại Mil. 144) – cả hai bài kinh này hiển nhiên là được thuyết trước khi Māluṅkyāputta đạt quả vị Arahant, bởi vì trong cả hai bài kinh, Đức Phật đều nói về ngài với thái độ chê trách.