Yamakasutta draft

Yamakasutta (Yamakovādasutta). The Thera Yamaka held the view that, in so far as a monk has destroyed the āsavas, he is broken up and perishes at the break up of the body and becomes not after death. Yamaka’s colleagues tried to correct this erroneous view but failed, and so reported him to Sāriputta (the heresy lies in the implication that “a being is broken up and perishes”, SN­a.ii.226). Sāriputta visited Yamaka and argued with him that if it were false to say of anybody that he existed in truth, in reality, even in this very life, how much more so to speak of someone existing or not existing after death. Yamaka thereupon confessed his error. Sāriputta further elucidated the matter by using the simile of a man who enters the service of a rich householder with the intent to murder him. Such a man would always be a murderer, even though his master knew him not to be so. Even so, the disciple who regards body, etc., as permanent and so on, harbours a murderous view, even though he knows it not as such (SN.iii.109ff).

The Sutta is often referred to. (e.g., Vibh­a.32; Vsm.479; cp. Vsm.626 (Yamakato sammasana), does Yamakato here mean “according to the Yamakasutta”?). It is sometimes called the Yamakovādasutta (e.g., Netti, p. 30).

Yamakasutta (Yamakovādasutta). Vị Thera Yamaka có quan điểm rằng, khi một tỳ-kheo đã diệt trừ các lậu hoặc (āsavas), vị ấy sẽ tan hoại và diệt vong khi thân hoại mạng chung và không còn tồn tại sau khi chết. Các đồng đạo của Yamaka đã cố gắng sửa chữa tà kiến này nhưng thất bại, và do đó đã báo cáo ông với Sāriputta (tà kiến nằm ở ngụ ý rằng "một chúng sinh tan hoại và diệt vong", SN­a.ii.226). Sāriputta đã đến thăm Yamaka và tranh luận với vị này rằng nếu việc nói về bất kỳ ai rằng người đó thực sự tồn tại, trong thực tại, ngay cả trong chính đời sống này là sai lầm, thì huống hồ là việc nói về một người tồn tại hay không tồn tại sau khi chết. Yamaka ngay lập tức thú nhận lỗi lầm của mình. Sāriputta còn làm sáng tỏ vấn đề hơn nữa bằng cách sử dụng ví dụ về một người phục vụ cho một gia chủ giàu có với ý định sát hại ông ta. Một người như vậy sẽ luôn là một kẻ sát nhân, mặc dù chủ nhân của anh ta không biết anh ta là kẻ như thế. Tương tự như vậy, vị đệ tử nào coi cơ thể, v.v..., là thường hằng và những thứ tương tự, đang ấp ủ một tà kiến chết người, mặc dù vị ấy không biết nó là như vậy (SN.iii.109ff).

Sutta này thường được trích dẫn. (ví dụ, Vibh­a.32; Vsm.479; cp. Vsm.626 (Yamakato sammasana), Yamakato ở đây có nghĩa là “theo Yamakasutta”?). Đôi khi nó được gọi là Yamakovādasutta (ví dụ, Netti, p. 30).