Ariyavaṁsa draft

01. Ariyavaṁsa 01 draft

Ariyavaṁsa 01. A compilation, probably of the life-histories of men eminent in the Buddhist Saṅgha, made in Ceylon and read aloud publicly for the edification of the people. The reading of the Ariyavaṁsa seems once to have been a regular feature of gatherings in the Buddhist vihāras on feast days. King Vohārakatissa made endowments for the giving of alms throughout Ceylon on the occasions when the Ariyavaṁsa was read (Mhv.xxxvi.38; Mhv.trans.258, n.6). A Sutta called Ariyavaṁsasutta is mentioned in the Commentaries (DN­a.i.50; MN­a.i.14) as an example of a discourse preached by the Buddha on his own initiative (attajjhāsaya). This perhaps refers to the sermon on the four Ariyavaṁsā in the Aṅguttaranikāya (AN.ii.27). See also Mahā Ariyavaṁsa.

Ariyavaṁsa 01. Một tuyển tập, có lẽ gồm tiểu sử của những người lỗi lạc trong Tăng đoàn Phật giáo, được biên soạn ở Ceylon và đọc công khai để giáo hóa dân chúng. Việc đọc Ariyavaṁsa dường như từng là một đặc điểm thường lệ của các buổi tụ họp trong các vihāra Phật giáo vào những ngày lễ. Vua Vohārakatissa lập các khoản cúng dường để bố thí vật thực khắp Ceylon vào những dịp Ariyavaṁsa được đọc (Mhv.xxxvi.38; Mhv.trans.258, n.6). Một Sutta gọi là Ariyavaṁsasutta được nhắc đến trong các Chú giải (DN­a.i.50; MN­a.i.14) như một ví dụ về bài giảng do Đức Phật tự khởi ý thuyết (attajjhāsaya). Điều này có lẽ chỉ bài giảng về bốn Ariyavaṁsā trong Aṅguttaranikāya (AN.ii.27). Cũng xem Mahā Ariyavaṁsa.

02. Ariyavaṁsa 02 draft

Ariyavaṁsa 02. A celebrated teacher and author of the fifteenth century. He came from Pagan and was a member of the Chapaṭa sect. He was a pupil of the famous Ye-din (“water-carrier”) of Sagaing (for an account of him see Bode, 41f), and with great zeal and enthusiasm learnt the Abhidhammatthavibhāvanī from his teacher. Later, Ariyavaṁsa wrote a commentary on this work and called it the Maṇisāramañjūsā. A charming anecdote is related of how he read the work to his colleagues and readily accepted their corrections with gratitude.

Among his other works are the Maṇidīpa, a Ṭīkā on the Atthasālinī, a grammatical treatise, the Gandhābharaṇa, and a study of the Jātakas called the Jātakavisodhana.

Ariyavaṁsa spent only a part of his life at Sagaing and afterwards taught at Ava, where the king was sometimes among his listeners. He was among the first of Burmese litterateurs to write a metaphysical work in the vernacular – an Anuṭīkā on the Abhidhamma (Sās. p.41ff). The Gandhavaṁsa (64-5) attributes to him another work, the Mahā Nissara (Mahā Nissaya?), but no mention is made of it in the Sāsanavaṁsa.

Ariyavaṁsa 02. Một vị thầy và tác giả nổi tiếng của thế kỷ mười lăm. Ngài đến từ Pagan và là thành viên của phái Chapaṭa. Ngài là học trò của vị Ye-din (“người gánh nước”) nổi tiếng ở Sagaing (về tường thuật về vị ấy, xem Bode, 41f), và với lòng nhiệt thành cùng hăng hái lớn lao, đã học Abhidhammatthavibhāvanī từ thầy mình. Về sau, Ariyavaṁsa viết một chú giải về tác phẩm này và gọi nó là Maṇisāramañjūsā. Một giai thoại thú vị được kể lại về việc ngài đọc tác phẩm cho các đồng sự nghe và sẵn lòng tiếp nhận những sửa chữa của họ với lòng biết ơn.

Trong số các tác phẩm khác của ngài có Maṇidīpa, một Ṭīkā về Atthasālinī, một chuyên luận ngữ pháp, Gandhābharaṇa, và một nghiên cứu về các Jātaka gọi là Jātakavisodhana.

Ariyavaṁsa chỉ sống một phần đời tại Sagaing và sau đó giảng dạy tại Ava, nơi nhà vua đôi khi có mặt trong số thính giả của ngài. Ngài là một trong những văn nhân Burmese đầu tiên viết một tác phẩm siêu hình học bằng tiếng bản địa - một Anuṭīkā về Abhidhamma (Sās. p.41ff). Gandhavaṁsa (64-5) gán cho ngài một tác phẩm khác, Mahā Nissara (Mahā Nissaya?), nhưng tác phẩm ấy không được nhắc đến trong Sāsanavaṁsa.