Aruṇavatīsutta draft

Aruṇavatīsutta. Records the incident of the visit of Abhibhū to the Brahma-world (SN.i.154f., etc.; see Abhibhū 1). Abhibhū chose as his theme action and energy, and the verses he uttered on that occasion, beginning “Ārabhatha, nikkhamatha, yuñjatha Buddhasāsane, arouse (yourself), go forth, strive in the teaching of the Buddha,” are often quoted.

Buddhaghosa says (SN­a.i.172-3) that Abhibhū chose this theme out of all the doctrines to be found in the Tipiṭaka because he knew that the subject would commend itself to all his hearers, human and non-human.

Milakkhatissa Thera of Ceylon, hearing a novice in Pācīnapabbata recite the Aruṇavatīsutta, listened to the stanzas, and feeling that they had been preached to encourage zealous monks like himself, he exerted himself and became an Anāgāmī. Soon afterwards he became an Arahant (AN­a.i.21-2).

The Sutta is said to have been preached by the Buddha on the fullmoon day of Jeṭṭhamāsa (AN­a.i.436).

Aruṇavatīsutta. Ghi lại sự kiện Abhibhū viếng thăm cõi Brahma (SN.i.154f., etc.; xem Abhibhū 1). Abhibhū chọn hành động và tinh cần làm chủ đề của mình, và những câu kệ ngài thốt ra nhân dịp ấy, bắt đầu bằng “Ārabhatha, nikkhamatha, yuñjatha Buddhasāsane, hãy khơi dậy chính mình, xuất ly, nỗ lực trong giáo pháp của Đức Phật,” thường được trích dẫn.

Buddhaghosa nói (SN­a.i.172-3) rằng Abhibhū đã chọn chủ đề này trong tất cả các giáo lý có trong Tipiṭaka vì ngài biết rằng đề tài ấy sẽ hợp ý tất cả người nghe, cả loài người lẫn phi nhân.

Milakkhatissa Thera ở Ceylon, khi nghe một sa-di tại Pācīnapabbata tụng Aruṇavatīsutta, đã lắng nghe các bài kệ, và cảm thấy rằng chúng đã được thuyết để khuyến khích những vị tỳ-kheo nhiệt tâm như chính mình; ông đã nỗ lực và trở thành một Anāgāmī. Không lâu sau đó ông trở thành một Arahant (AN­a.i.21-2).

Sutta này được nói là đã được Đức Phật thuyết vào ngày trăng tròn của Jeṭṭhamāsa (AN­a.i.436).