Kalyāṇī draft

Kalyāṇī. The name of a river and of the district near its mouth in Ceylon. The Buddha visited the Kalyāṇi country in the eighth year after the Awakening, in company with five hundred monks, on the second day after the full-moon of Vesākha and, seated on the spot where the Kalyāṇicetiya was later built, he preached to the Nāgas and their king Maṇi­akkhika, at whose invitation he had come (Vin-a.i.89; Mhv.i.63, 75ff; Dpv.ii.42, 53; Ja.ii.128).

Once a king reigned in Kalyāṇī named Kalyāṇitissa, who had a daughter Vihāramahādevī. According to the legends connected with her, Kalyāṇī was at one time much further from the sea than it is now. The sea swallowed up several leagues of land (Mhv.xxii.12ff). King Yaṭṭhālatissa built a five-storied pāsāda in the town, which was later restored by Parakkamabāhu II. (Cv.lxxxv.64).

The Kalyāṇi district formed the fighting base of several campaigns, e.g., Cv.lxi.35, 39; lxxii.151.

Kalyāṇī. Tên của một con sông và của quận nằm gần cửa của con sông này ở Tích Lan. Đức Phật đã đến thăm đất nước Kalyāṇi vào năm thứ tám sau khi đạt được sự Giác ngộ, cùng với năm trăm vị tỳ-kheo, vào ngày thứ hai sau ngày rằm tháng Vesākha và, khi đang ngồi trên địa điểm nơi mà Kalyāṇicetiya sau này được xây dựng, Ngài đã thuyết pháp cho các Nāga và vị vua của họ là Maṇi­akkhika, Ngài đã đến theo lời mời của vị này (Vin-a.i.89; Mhv.i.63, 75ff; Dpv.ii.42, 53; Ja.ii.128).

Có một lần một vị vua đã trị vì ở Kalyāṇī mang tên Kalyāṇitissa, ông có một người con gái là Vihāramahādevī. Theo những truyền thuyết có liên quan đến bà, Kalyāṇī đã có một thời gian cách xa biển hơn nhiều so với hiện tại. Biển đã nuốt chửng nhiều do-tuần đất (Mhv.xxii.12ff). Vua Yaṭṭhālatissa đã xây dựng một pāsāda năm tầng trong thị trấn, sau đó đã được trùng tu bởi Parakkamabāhu II. (Cv.lxxxv.64).

Quận Kalyāṇi đã hình thành nên căn cứ chiến đấu của nhiều chiến dịch, ví dụ, Cv.lxi.35, 39; lxxii.151.