Kuṭidūsakajātaka draft
Kuṭidūsakajātaka (Ja 321). A siṅgila-bird, seeing a monkey shivering in the rain, suggested to him that he should build a nest. The monkey, in envy, destroyed the bird’s nest.
The story was told in reference to a novice Uluṅkasaddaka, who had burnt down Mahā Kassapa’s hut in a forest near Rājagaha. At that time Mahā Kassapa had two novices, one serviceable and helpful and the other ill-behaved. Whatever was done by his comrade the latter would pretend that he himself had done it. One day, in exasperation, the good novice heated water for the Elder’s bath and then hid it in a back room, leaving only a little in the boiler. When the other novice saw the steam rising he informed the Elder that his bath was ready. When asked where was the water, he let a ladle down into the almost empty boiler and the ladle rattled. When the story became known he was nick-named Uluṅkasaddaka (“Rattle-ladle”).
Being found fault with on this and several other occasions, he bore the Elder a grudge, and one day, having set fire to the Elder’s hut, he ran away. Later he was born first as a Peta and then in Avīci. This incident was reported to the Buddha by monks who came from Rājagaha.
The monkey of the Jātaka is identified with the wicked novice. Ja.iii.71ff.
Một con chim siṅgila, khi thấy một con khỉ run rẩy trong mưa, đã gợi ý với nó rằng nó nên xây một cái tổ. Con khỉ, vì ghen tị, đã phá hủy tổ của con chim.
Câu chuyện được kể liên quan đến một sa-di tên Uluṅkasaddaka, người đã đốt cháy túp lều của Mahā Kassapa trong một khu rừng gần Rājagaha. Vào thời điểm đó Mahā Kassapa có hai sa-di, một người hữu ích và hay giúp đỡ, còn người kia cư xử tồi tệ. Bất cứ điều gì người đồng đạo của cậu ta làm, cậu ta sau đó sẽ giả vờ rằng chính cậu ta đã làm nó. Một ngày nọ, trong lúc bực tức, vị sa-di tốt bụng đã đun nước cho Trưởng lão tắm rồi giấu nó trong một phòng phía sau, chỉ để lại một chút trong nồi hơi. Khi sa-di kia thấy hơi nước bốc lên, cậu ta liền báo cho Trưởng lão rằng nước tắm của ngài đã sẵn sàng. Khi được hỏi nước ở đâu, cậu ta thả một cái gáo xuống nồi hơi gần như trống rỗng và cái gáo phát ra tiếng kêu lách cách. Khi câu chuyện được biết đến, cậu ta bị gọi với biệt danh Uluṅkasaddaka ("Gáo kêu lách cách").
Bị chỉ trích về lỗi lầm này và một số dịp khác, cậu ta mang mối hận với Trưởng lão, và một ngày nọ, sau khi châm lửa đốt túp lều của Trưởng lão, cậu ta đã bỏ trốn. Sau đó cậu ta sinh ra làm một Peta và rồi vào địa ngục Avīci. Sự việc này đã được báo cáo cho Đức Phật bởi các tỳ-kheo đến từ Rājagaha.
Con khỉ trong Jātaka được đồng nhất với vị sa-di độc ác. Ja.iii.71ff.