Abhirūpanandā Therī draft

Abhirūpanandā Therī. She was born in Kapilavatthu as the daughter of the chief of the Sākiyan Khemaka and was named Nandā. Owing to her great beauty and charm she became known as Abhirūpānandā.

On the day appointed for her to select her husband, the Sākiyan youth, on whom her choice was to have fallen, died, and her parents made her leave the world against her will.

The Apadāna account (ii. 609) does not mention the suitor’s death, but states that many sought her hand and caused great trouble, to avoid which her parents made her join the Saṅgha.

Even after she had entered the Saṅgha she avoided going into the Buddha’s presence, being infatuated with her own beauty and fearing the Master’s rebuke. In order to induce her to come to him, the Buddha directed Mahā Pajāpatī to see that all the nuns came for instruction. When Nandā’s turn came she sent another in her place. The Buddha refused to recognise the substitute, and Nandā was compelled to go herself. As she listened to the Buddha preaching, he, by his magic power, conjured up a beautiful woman and showed her becoming aged and fading, causing anguish to arise in Nandā’s heart. At the opportune moment, the Buddha drove home the truth of the impermanence of beauty. Meditating on this topic, she later became an Arahant (Thīg­a.81f.; Snp-a.i.241-2).

The two verses preached to her by the Buddha, which she made the subject of her meditations, are given in the Therīgāthā (vv.19, 20).

In the time of Vipassī Buddha, Nandā had been the daughter of a wealthy burgess in the Buddha’s native town of Bandhumatī. Having heard the Buddha preach she became his pious follower, and, at his death, made an offering of a golden umbrella decked with jewels to the shrine built over his ashes (Ap.ii.608).

The verses quoted in the Therīgāthā Commentary, as having been taken from the Apadāna, really belong to Mettā, and are found in the Apadāna (ii. 515) ascribed to Ekapiṇḍadāyikā. The correct verses are found in the Apadāna under the name of Abhirūpanandā, and agree with the story given in the text of the Therīgāthā Commentary.

Abhirūpanandā Therī. Bà sinh ở Kapilavatthu, là con gái của thủ lĩnh Sākiyan Khemaka, và được đặt tên là Nandā. Do vẻ đẹp và sức quyến rũ lớn lao, bà được biết đến với tên Abhirūpānandā.

Vào ngày được ấn định để bà chọn chồng, chàng trai Sākiyan mà bà dự định chọn đã chết, và cha mẹ buộc bà xuất gia trái với ý muốn của bà.

Tường thuật trong Apadāna (ii. 609) không nhắc đến cái chết của người cầu hôn, nhưng nói rằng nhiều người tìm cách cưới bà và gây nhiều rắc rối, để tránh điều ấy cha mẹ bà buộc bà gia nhập Tăng đoàn.

Ngay cả sau khi đã vào Tăng đoàn, bà vẫn tránh đi vào trước mặt Đức Phật, vì say mê sắc đẹp của chính mình và sợ lời quở trách của Bậc Đạo Sư. Để khiến bà đến gặp ngài, Đức Phật chỉ thị Mahā Pajāpatī bảo đảm rằng tất cả các Tỳ-kheo-ni đều đến nghe giáo giới. Khi đến lượt Nandā, bà sai một người khác đi thay. Đức Phật từ chối công nhận người thay thế, và Nandā buộc phải tự mình đến. Khi bà lắng nghe Đức Phật thuyết pháp, bằng thần lực của ngài, ngài hóa hiện một người phụ nữ xinh đẹp và cho bà thấy người ấy trở nên già nua và tàn phai, khiến nỗi đau khởi lên trong lòng Nandā. Đúng lúc thích hợp, Đức Phật làm cho chân lý về sự vô thường của sắc đẹp thấm sâu. Thiền quán về đề tài này, về sau bà trở thành một Arahant (Thīg­a.81f.; Snp-a.i.241-2).

Hai bài kệ Đức Phật thuyết cho bà, mà bà lấy làm đề mục thiền quán, được ghi trong Therīgāthā (vv.19, 20).

Vào thời Vipassī Buddha, Nandā từng là con gái của một thị dân giàu có tại quê hương Bandhumatī của Đức Phật. Sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp, bà trở thành một tín nữ mộ đạo của ngài, và khi ngài qua đời, bà cúng dường một chiếc lọng vàng trang sức bằng châu báu đến bảo tháp được xây trên tro xá-lợi của ngài (Ap.ii.608).

Các kệ được Chú giải Therīgāthā trích dẫn, nói là lấy từ Apadāna, thật ra thuộc về Mettā, và được tìm thấy trong Apadāna (ii. 515), quy cho Ekapiṇḍadāyikā. Các kệ đúng được tìm thấy trong Apadāna dưới tên Abhirūpanandā, và phù hợp với câu chuyện được nêu trong văn bản của Chú giải Therīgāthā.