Vipassī Buddha draft

Vipassī Buddha. The nineteenth of the twenty-four Buddhas. He was born in the Khema park in Bandhumatī, his father being Bandhumā and his mother Bandhumatī. He belonged to the Koṇḍañña gotta. For eight thousand years he lived as a householder in three palaces: Nanda, Sunanda and Sirimā. His body was eighty cubits in height. His wife was Sutanā (v.l. Sudassanā) and his son Samavattakkhandha. He left the household in a chariot and practised austerities for eight months. Just before his enlightenment, the daughter of Sudassana seṭṭhi gave him milk-rice, while a yavapālaka named Sujāta gave grass for his seat. His bodhi was a pāṭali-tree. He preached his first sermon in Khemamigadāya to his step-brother Khandha and his Purohita’s son Tissa; these two later became his chief disciples. His constant attendant was Asoka; Candā and Candamittā were his chief women disciples. His chief lay patrons were Punabbasumitta and Nāga among men, and Sirimā and Uttarā among women. He died in Sumittārāma at the age of eighty thousand, and his relics were enshrined in a Thūpa seven leagues in height. The Bodhisatta was a Nāga king named Atula (Bv.xx.1ff.; Bv­a.195f.; DN.ii.2ff).

Three reasons are given for the name of this Buddha (Bv­a.195; cf. DN­a.ii.454; SN­a.ii.15):

  • (1) Because he could see as well by night as by day;
  • (2) because he had broad eyes;
  • (3) because he could see clearly after investigation.

Vipassī held the uposatha only once in seven years (Dhp­a.iii.236), but on such occasions the whole Saṅgha was present (Vin-a.i.186). The construction of a Gandhakuṭi for Vipassī brought Meṇḍaka great glory in the present age. Meṇḍaka’s name at the time was Avaroja (Dhp­a.iii.364f). Aññā Koṇḍañña was then known as Cūḷa Kāḷa, and nine times he gave Vipassī Buddha the first fruits of his fields. Dhp­a.i.81f.

Vipassī Buddha. Vị Phật thứ mười chín trong số hai mươi bốn vị Phật. Ngài đản sinh tại ngự uyển KhemaBandhumatī, cha của ngài là Bandhumā và mẹ là Bandhumatī. Ngài thuộc gotta Koṇḍañña. Trong tám nghìn năm ngài sống như một gia chủ tại ba cung điện: Nanda, SunandaSirimā. Thân hình ngài cao tám mươi cubit. Vợ ngài là Sutanā (v.l. Sudassanā) và con trai ngài là Samavattakkhandha. Ngài xuất gia từ bỏ gia đình trên một cỗ xe ngựa và thực hành khổ hạnh trong tám tháng. Ngay trước khi giác ngộ, con gái của trưởng giả (seṭṭhi) Sudassana đã dâng cho ngài món cháo sữa, trong khi một người canh đồng lúa mạch (yavapālaka) tên là Sujāta đã dâng cỏ để làm chỗ ngồi cho ngài. Cây bodhi của ngài là một cây pāṭali. Ngài thuyết bài pháp đầu tiên ở Khemamigadāya cho người em cùng cha khác mẹ Khandha và con trai vị Purohita của ngài là Tissa; hai người này sau đó trở thành các Thượng thủ Thanh văn của ngài. Thị giả thường xuyên của ngài là Asoka; CandāCandamittā là các nữ Thượng thủ Thanh văn của ngài. Các nam thí chủ hộ độ chính của ngài là PunabbasumittaNāga, và các nữ thí chủ chính là Sirimā và Uttarā. Ngài Niết-bàn (Bát-niết-bàn) tại Sumittārāma ở tuổi tám mươi nghìn, và xá-lợi của ngài được tôn trí trong một bảo tháp (Thūpa) cao bảy do-tuần. Bodhisatta khi đó là một vị vua Nāga tên là Atula (Bv.xx.1ff.; Bv­a.195f.; DN.ii.2ff).

Ba lý do được đưa ra cho tên gọi của vị Phật này (Bv­a.195; cf. DN­a.ii.454; SN­a.ii.15):

  • (1) Vì ngài có thể nhìn rõ vào ban đêm cũng như ban ngày;
  • (2) vì ngài có đôi mắt to rộng;
  • (3) vì ngài có thể nhìn thấy rõ ràng sau khi suy xét.

Vipassī chỉ tổ chức lễ uposatha một lần mỗi bảy năm (Dhp­a.iii.236), nhưng vào những dịp như vậy thì toàn bộ Tăng đoàn đều có mặt (Vin-a.i.186). Việc xây dựng một Gandhakuṭi cho Vipassī đã mang lại cho Meṇḍaka vinh quang to lớn trong thời đại hiện tại. Tên của Meṇḍaka vào thời điểm đó là Avaroja (Dhp­a.iii.364f). Aññā Koṇḍañña lúc bấy giờ được biết đến với tên gọi Cūḷa Kāḷa, và ông đã chín lần dâng cho Đức Phật Vipassī những thành quả thu hoạch đầu mùa từ ruộng của mình. Dhp­a.i.81f.