Chaddantajātaka draft

Chaddantajātaka (Ja 514). The story of the Bodhisatta, born as Chaddanta, king of elephants. It was related in reference to a nun of Sāvatthī who, while listening one day to a sermon by the Buddha, admired his extreme beauty of form and wondered if she had ever been his wife. Immediately the memory of her life as Cūḷa Subhaddā, Chaddanta’s consort, came to her mind and she laughed for joy; but on further recollecting that she had been the instrument of his death, she wept aloud. The Buddha related this story in explanation of her conduct. Ja.v.36; Speyer (ZDMG.lxxv.2, 305ff) suggests an allegorical explanation of the Chaddantajātaka. Feer (JA.1895 v.) gives a careful study of the story based on a comparison of five different versions – two Pāli, two Chinese and one Sanskrit. This Jātaka forms the theme of many illustrations – e.g., in Barhut (Cunningham, pl.xxxvi.6), also Ajanta Caves x. and xvii.

Chaddantajātaka (Ja 514). Câu chuyện về Bodhisatta, được sinh ra làm Chaddanta, vua voi. Nó được kể lại liên quan đến một nữ tu ở Sāvatthī, người mà một ngày nọ, trong khi đang lắng nghe một bài thuyết pháp của Đức Phật, đã chiêm ngưỡng vẻ đẹp tuyệt mỹ về hình thể của ngài và tự hỏi liệu bà đã từng là vợ của ngài chưa. Ngay lập tức ký ức về cuộc sống của bà với tư cách là Cūḷa Subhaddā, vợ của Chaddanta, hiện ra trong tâm trí bà và bà đã cười lên vì vui sướng; nhưng khi nhớ lại thêm rằng bà từng là công cụ gây ra cái chết của ngài, bà đã bật khóc thành tiếng. Đức Phật đã kể lại câu chuyện này để giải thích cho hành vi của bà. Ja.v.36; Speyer (ZDMG.lxxv.2, 305ff) đưa ra một sự giải thích mang tính ngụ ngôn về Chaddantajātaka. Feer (JA.1895 v.) đã đưa ra một nghiên cứu cẩn thận về câu chuyện này dựa trên sự so sánh của năm phiên bản khác nhau – hai bằng tiếng Pāli, hai bằng tiếng Trung Quốc và một bằng tiếng Phạn. Truyện Jātaka này tạo thành chủ đề của rất nhiều hình ảnh minh họa – vd., ở Barhut (Cunningham, pl.xxxvi.6), cũng có ở trong các Hang động Ajanta x. và xvii.