Chaddanta draft

01. Chaddanta 01 draft

Chaddanta 01. A forest in Himavā. In the forest was the Mandākinī Lake, on the banks of which Aññā Koṇḍañña lived in retirement for twelve years, waited upon by eight thousand elephants who had once ministered to Pacceka Buddhas. SN­a.i.217; Thag­a.ii.3, 7; AN­a.i.84.

Chaddanta 01. Một khu rừng ở Himavā. Trong khu rừng này có Hồ Mandākinī, trên bờ hồ này Aññā Koṇḍañña đã sống ẩn dật trong mười hai năm, được hầu hạ bởi tám ngàn con voi từng phục vụ các vị Pacceka Buddha. SN­a.i.217; Thag­a.ii.3, 7; AN­a.i.84.

02. Chaddanta 02 draft

Chaddanta 02. A lake, one of the seven great lakes of the Himālaya region (AN.iv.101; AN­a.ii.759). It was fifty leagues long and fifty broad. In the middle of the lake, for a space of twelve leagues, the water was like a jewel and no weeds grew there. Around this space were seven girdles of lilies, each girdle of a different hue and each a league in extent. Round the lake were seven ranges of mountains – Cūḷa Kāḷa, Mahā Kāḷa, Udaka, Candapassa, Suriyapassa, Maṇipassa and Suvaṇṇapassa, the last range being seven leagues in height and of a golden hue on the side overlooking the lake. On the west side of the lake was the Kañcanaguhā, twelve leagues in extent, where the elephant-king lived. Ja.v.37.

Chaddanta 02. Một hồ nước, một trong bảy hồ nước lớn của vùng Himālaya (AN.iv.101; AN­a.ii.759). Nó dài năm mươi do-tuần và rộng năm mươi do-tuần. Ở giữa hồ, trong một khoảng không gian rộng mười hai do-tuần, nước giống như một viên ngọc và không có loài cỏ dại nào mọc ở đó. Xung quanh khoảng không gian này là bảy vành đai hoa huệ, mỗi vành đai có một màu sắc khác nhau và mỗi vành đai rộng một do-tuần. Quanh hồ là bảy dãy núi – Cūḷa Kāḷa, Mahā Kāḷa, Udaka, Candapassa, Suriyapassa, Maṇipassa và Suvaṇṇapassa, dãy núi cuối cùng cao bảy do-tuần và có sắc vàng ở mặt nhìn ra hồ. Ở phía tây của hồ là Kañcanaguhā, rộng mười hai do-tuần, nơi vị vua voi sinh sống. Ja.v.37.

03. Chaddanta 03 draft

Chaddanta 03. A tribe of elephants, of which tribe the Bodhisatta was once born as king (see No.4). The Chaddantas and the Uposathas are the two highest classes of elephant (Dhp­a.iii.248). The Chaddantakula sometimes provides the hatthiratana for a Cakkavatti, in which case it is the youngest of the tribe who so functions (Khp-a.172). Of the ten tribes of elephants enumerated in the books (e.g., Ud­a.403; Vibh­a.397) the Chaddanta is classed as the highest, and the Buddha possesses the strength of ten Chaddanta elephants, each elephant having the strength of ten thousand million men (Bv­a.37). These elephants have the power of travelling through the air and are white in hue (Ja.v.37; Vsm.650).

Chaddanta 03. Một dòng dõi loài voi, mà Bodhisatta đã từng được sinh ra làm vua của dòng dõi này (xem số 4). Loài voi Chaddanta và loài voi Uposatha là hai hạng voi cao quý nhất (Dhp­a.iii.248). Chaddantakula thỉnh thoảng cung cấp hatthiratana cho một vị Cakkavatti, trong trường hợp đó chính là con voi trẻ nhất của bộ tộc sẽ đảm nhận vai trò như vậy (Khp-a.172). Trong mười dòng dõi voi được liệt kê trong các kinh sách (vd., Ud­a.403; Vibh­a.397), dòng dõi Chaddanta được xếp vào loại cao nhất, và Đức Phật sở hữu sức mạnh của mười con voi Chaddanta, mỗi con voi có sức mạnh bằng mười ngàn triệu người (Bv­a.37). Những con voi này có sức mạnh bay trong không trung và có màu trắng tinh (Ja.v.37; Vsm.650).

04. Chaddanta 04 draft

Chaddanta 04. The Bodhisatta, born as king of the elephants of the Chaddanta tribe, eight thousand in number. His body was pure white, with red face and feet, and seven parts of his body touched the ground. He lived in the Kañcanaguhā on the banks of the Chaddanta Lake, his chief queens being Cūḷa Subhaddā and Mahā Subhaddā. Owing to the preference shown to Mahā Subhaddā by Chaddanta, Cūḷa Subhaddā conceived a grudge against him, and one day, when Chaddanta was entertaining five hundred Pacceka Buddhas, she offered them wild fruits and made a certain wish. As a result she was reborn in the Madda king’s family and was named Subhaddā. Later she became chief consort of the king of Benares. Remembering her ancient grudge, she schemed to have Chaddanta’s tusks cut off. All the hunters were summoned by the king, and Soṇuttara was chosen for the task. It took him seven years, seven months and seven days to reach Chaddanta’s dwelling-place. He dug a pit and covered it, and as the elephant passed over it shot at him a poisoned arrow. When Chaddanta realised what had happened, he charged Soṇuttara, but, seeing that he was clad in a yellow robe, he restrained himself. Having learnt Soṇuttara’s story, he showed him how his tusks could be cut off, but Soṇuttara’s strength was not sufficient to saw them through. Chaddanta thereupon took the saw with his own trunk and, wounded as he was and suffering excruciating pain from the incisions already made in his jaws, he sawed through the tusks, handed them over to the hunter and died. In seven days, through the magic power of the elephant’s tusks, Soṇuttara returned to Benares; but when Subhaddā heard that her conspiracy had resulted in the death of her former lover and husband, she died of a broken heart (Ja.v.36ff).

Chaddanta is mentioned as one of the births in which the Bodhisatta practised sīlapāramitā (Ja.i.45). Chaddanta could find delight only in the lakes and forests of the Himālaya, not in the crowded city (Vsm.650). See also Chaddantajātaka (Ja 514).

Chaddanta 04. Vị Bodhisatta, được sinh ra làm vua của loài voi dòng dõi Chaddanta, với số lượng là tám ngàn con. Thân hình của ngài có màu trắng tinh, với khuôn mặt và bàn chân màu đỏ, và bảy bộ phận trên cơ thể ngài chạm đất. Ngài sống trong Kañcanaguhā trên bờ Hồ Chaddanta, các chánh hậu của ngài là Cūḷa SubhaddāMahā Subhaddā. Do sự sủng ái mà Chaddanta dành cho Mahā Subhaddā, Cūḷa Subhaddā đã nảy sinh ác cảm với ngài, và một ngày nọ, khi Chaddanta đang tiếp đãi năm trăm vị Pacceka Buddha, bà đã dâng lên họ những loại quả dại và thực hiện một lời nguyện ước nhất định. Kết quả là bà được tái sanh trong gia đình của vua xứ Madda và được đặt tên là Subhaddā. Về sau bà trở thành chánh hậu của vị vua xứ Benares. Nhớ lại mối ác cảm xưa của mình, bà đã lập mưu để cưa đứt ngà của Chaddanta. Tất cả các thợ săn đều được nhà vua triệu tập, và Soṇuttara đã được chọn cho nhiệm vụ này. Ông mất bảy năm, bảy tháng và bảy ngày để đến được nơi ở của Chaddanta. Ông đã đào một cái hố và che nó lại, và khi con voi đi qua nó, ông đã bắn một mũi tên tẩm độc vào ngài. Khi Chaddanta nhận ra chuyện gì đã xảy ra, ngài đã lao vào Soṇuttara, nhưng khi thấy ông ta đang mặc một chiếc y màu vàng, ngài đã kìm mình lại. Khi biết được câu chuyện của Soṇuttara, ngài đã chỉ cho ông ta cách làm thế nào để có thể cưa đứt ngà của ngài, nhưng sức mạnh của Soṇuttara không đủ để cưa đứt chúng. Chaddanta sau đó đã tự mình lấy chiếc cưa bằng vòi của mình và, trong khi đang bị thương và phải chịu đựng nỗi đau tột cùng từ những vết rạch đã được tạo ra ở quai hàm của ngài, ngài đã cưa đứt những chiếc ngà, trao chúng cho người thợ săn và rồi tắt thở. Trong bảy ngày, thông qua sức mạnh ma thuật của những chiếc ngà voi, Soṇuttara đã trở về Benares; nhưng khi Subhaddā nghe rằng âm mưu của bà đã dẫn đến cái chết của người tình cũ và người chồng trước đây của mình, bà đã chết vì trái tim tan vỡ (Ja.v.36ff).

Chaddanta được nhắc đến là một trong những kiếp sống mà Bodhisatta đã thực hành sīlapāramitā (Ja.i.45). Chaddanta chỉ có thể tìm thấy niềm vui ở những hồ nước và khu rừng của dãy Himālaya, không phải trong thành phố đông đúc (Vsm.650). Xem thêm Chaddantajātaka (Ja 514).