Subhadda draft, redirect

01. Subhadda 01 draft

Subhadda 01. One of the chief lay patrons of Dhammadassī Buddha. Bv.xvi.20.

Subhadda 01. Một trong những nam đại thí chủ của Dhammadassī Buddha. Bv.xvi.20.

02. Subhadda 02 draft

Subhadda 02. A youth who joined the Saṅgha under Koṇḍaññā Buddha with ten thousand others, and became an Arahant. He was the Buddha’s Aggasāvaka. Bv.iii.30; Ja.i.30; Bv­a.111.

Subhadda 02. Một thanh niên đã gia nhập Tăng đoàn dưới sự chứng minh của Koṇḍaññā Buddha cùng với mười ngàn người khác, và trở thành một Arahant. Ngài là Aggasāvaka (nam Đệ nhất Thượng thủ Thanh văn) của Đức Phật. Bv.iii.30; Ja.i.30; Bv­a.111.

03. Subhadda 03 draft

Subhadda 03. A yavapālaka who gave grass for his seat to Kakusandha Buddha. Bv­a.210.

Subhadda 03. Một yavapālaka (người canh giữ lúa mạch) đã cúng dường cỏ cho Kakusandha Buddha làm chỗ ngồi. Bv­a.210.

04. Subhadda 04 draft

Subhadda 04. Son of Upaka, the Ājīvaka and Cāpā. Thīg­a.221; Snp­a.i.260.

Subhadda 04. Con trai của Upaka thuộc tà giáo Ājīvaka và nàng Cāpā. Thīg­a.221; Snp­a.i.260.

05. Subhadda 05 draft

Subhadda 05. A barber of Atumā. He entered the Saṅgha and resented having to observe various rules, great and small. When the Buddha died and the monks stood weeping, Subhadda asked them to rejoice instead, saying: “We are well rid of the Mahā Samaṇa; we shall now do just as we like.” Mahā Kassapa heard this while he was on his way from Pāvā to Kusināra, and it was this remark which made him decide to hold the First Council after the Buddha’s death (Vin.ii.284f; DN.ii.162; Mhv.iii.6).

Subhadda had been a Sāmaṇera at the time of the Buddha’s visit to Atumā, and had two sons before he joined the Saṅgha. When he heard that the Buddha was coming, he sent for his two sons and gave orders for various foods to be collected to feed the Buddha and the twelve hundred and fifty monks. The Buddha arrived in the evening and took up his residence in Atumā. All night long Subhadda went about giving instructions regarding the preparation of the food. In the morning of the next day the Buddha went out for alms, and Subhadda approached him and invited him to partake of the food which he had prepared. But the Buddha questioned him, and, discovering what he had done, refused to accept the meal, forbidding the monks to do so too. This angered Subhadda, and he awaited an opportunity of expressing his disapproval of the Buddha. This opportunity came when he heard of the Buddha’s death. DN­a.ii.599; cf. Vin.i.249f.

Subhadda 05. Một người thợ cạo ở Atumā. Vị này đã gia nhập Tăng đoàn và bực bội khi phải tuân giữ nhiều học giới khác nhau, cả lớn lẫn nhỏ. Khi Đức Phật viên tịch và các tỳ-kheo đang đứng khóc, Subhadda đã bảo họ hãy vui mừng thay vì như vậy, nói rằng: "Chúng ta đã thoát khỏi Mahā Samaṇa (Đại Sa-môn) một cách tốt đẹp; từ nay chúng ta sẽ làm đúng như những gì chúng ta thích." Mahā Kassapa đã nghe được điều này khi ngài đang trên đường từ Pāvā đến Kusināra, và chính lời nhận xét này đã khiến ngài quyết định tổ chức kỳ kết tập Tăng đoàn lần thứ nhất sau khi Đức Phật viên tịch (Vin.ii.284f; DN.ii.162; Mhv.iii.6).

Subhadda đã từng là một Sāmaṇera (sa-di) vào thời điểm Đức Phật đến thăm Atumā, và đã có hai người con trai trước khi gia nhập Tăng đoàn. Khi nghe tin Đức Phật sắp đến, ông đã cho gọi hai người con trai của mình và ra lệnh thu thập nhiều loại thức ăn khác nhau để cúng dường Đức Phật và một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ-kheo. Đức Phật đã đến vào buổi tối và nghỉ lại tại Atumā. Suốt cả đêm Subhadda đi loanh quanh để đưa ra các chỉ dẫn liên quan đến việc chuẩn bị thức ăn. Sáng ngày hôm sau Đức Phật đi khất thực, và Subhadda đã đến gần Ngài và thỉnh mời Ngài thọ dụng thức ăn mà ông đã chuẩn bị. Nhưng Đức Phật đã vặn hỏi ông, và khi phát hiện ra những gì ông đã làm, Ngài đã từ chối nhận bữa ăn đó, đồng thời cũng cấm các tỳ-kheo làm như vậy. Điều này đã chọc giận Subhadda, và ông ta đã chờ đợi một cơ hội để bày tỏ sự bất mãn của mình đối với Đức Phật. Cơ hội này đã đến khi ông ta nghe tin Đức Phật viên tịch. DN­a.ii.599; cf. Vin.i.249f.

06. Subhadda 06 draft

Subhadda 06. Subhadda Thera. He was a Brahmin of high rank (of the udiccabrāhmaṇa Mahā Sālakula), and, having become a Paribbājaka, was living in Kusinārā when the Buddha went there on his last journey. Having heard that the Buddha would die in the third watch of the night, Subhadda went to the sāla grove, where the Buddha lay on his death bed, and asked Ānanda for permission to see him. But three times Ānanda refused the request, saying that the Buddha was weary. The Buddha overheard the conversation and asked Subhadda to come in. Subhadda asked the Buddha if there were any truth in the teachings of other religious instructors. The Buddha said he had no time to discuss that, but that any system devoid of the Noble Eightfold Path was useless for salvation, and he taught Subhadda the Dhamma. Subhadda asked to be allowed to join the Saṅgha, and the Buddha gave Ānanda special permission to admit him at once without waiting for the usual probationary period. Subhadda dwelt in solitude and in meditation and soon became an Arahant. He was the last disciple to be converted by the Buddha (DN.ii.148ff.; cf. Dhp­a.iii.376f).

Buddhaghosa says (DN­a.ii.590) that when the Buddha gave him permission to ordain Subhadda, Ānanda took him outside, poured water over his head, made him repeat the formula of the impermanence of the body, shaved off his hair and beard, clad him in yellow robes, made him repeat the Three Refuges, and then led him back to the Buddha. The Buddha himself admitted Subhadda to the higher ordination and gave him a subject for meditation. Subhadda took this and, walking up and down in a quiet part of the grove, attained Arahant-ship and came and sat down beside the Buddha.

In the past, Subhadda and Aññāta Koṇḍañña had been brothers. They had a cornfield, and the elder (Aññāta Koṇḍañña) gave the first fruits of the corn to the monks in nine stages. The younger (Subhadda) found fault with him for damaging the corn. They then divided the field, thus settling the dispute (DN­a.ii.588). Subhadda rubbed the dead body of Padumuttara Buddha with sandalwood and other fragrant essences and placed a banner on his Thūpa. In the time of Kassapa Buddha, the Buddha’s Aggasāvaka, Tissa, was, Subhadda’s son. Subhadda spoke disparagingly of him, hence his tardiness in meeting the Buddha in his last life. Subhadda died on the day of his ordination and Arahant-ship (Ap.i.100f).

The conversation between the Buddha and Subhadda forms the topic of a dilemma in the Milindapañha (p.130). Subhadda’s ordination was the Buddha’s last “official” act. Khp­a.,p.89.

Subhadda 06. Subhadda Thera. Ngài là một Bà-la-môn thuộc tầng lớp thượng lưu (thuộc dòng dõi udiccabrāhmaṇa Mahā Sālakula), và, sau khi trở thành một Paribbājaka (du sĩ ngoại đạo), ngài đang sống ở Kusinārā vào lúc Đức Phật đi đến đó trong chuyến hành trình cuối cùng của Ngài. Khi nghe nói rằng Đức Phật sẽ viên tịch vào canh ba của đêm đó, Subhadda đã đi đến rừng cây sāla, nơi Đức Phật đang nằm trên giường bệnh, và xin phép Ānanda để được đảnh lễ Ngài. Nhưng ba lần Ānanda đều từ chối yêu cầu đó, nói rằng Đức Phật đang rất mệt. Đức Phật tình cờ nghe được cuộc trò chuyện đó và bảo Subhadda vào trong. Subhadda hỏi Đức Phật liệu có chút sự thật nào trong những lời dạy của các vị đạo sư tôn giáo khác hay không. Đức Phật nói rằng Ngài không có thời gian để thảo luận về điều đó, nhưng bất kỳ hệ thống nào thiếu vắng Bát Thánh đạo thì đều vô ích đối với sự giải thoát, và Ngài đã thuyết Pháp cho Subhadda. Subhadda xin phép được gia nhập Tăng đoàn, và Đức Phật đã ban đặc ân cho phép Ānanda thu nhận ngài ngay lập tức mà không cần phải chờ đợi qua thời gian thử thách thông thường. Subhadda sống ẩn cư, thực hành thiền định và chẳng bao lâu sau đã trở thành một Arahant. Ngài là người đệ tử cuối cùng được Đức Phật hóa độ (DN.ii.148ff.; cf. Dhp­a.iii.376f).

Buddhaghosa nói (DN­a.ii.590) rằng khi Đức Phật cho phép ngài xuất gia cho Subhadda, Ānanda đã đưa vị ấy ra ngoài, dội nước lên đầu, bảo vị ấy lặp lại công thức về sự vô thường của thân thể, cạo bỏ râu tóc, mặc cho vị ấy y áo màu vàng, bảo vị ấy đọc Tam Quy y, và sau đó dẫn vị ấy quay lại đảnh lễ Đức Phật. Đích thân Đức Phật đã ban cho Subhadda sự thọ giới bậc cao (cụ túc giới) và giao cho ngài một đề mục thiền định. Subhadda đã nhận lấy đề mục này và, trong khi đang đi kinh hành qua lại tại một nơi yên tĩnh trong khu rừng, ngài đã đạt được quả vị Arahant rồi đến ngồi xuống bên cạnh Đức Phật.

Trong quá khứ, Subhadda và Aññāta Koṇḍañña từng là hai anh em. Họ có một cánh đồng ngô, và người anh (Aññāta Koṇḍañña) đã cúng dường những hoa trái đầu mùa của cánh đồng ngô đó cho các vị tỳ-kheo theo chín giai đoạn. Người em (Subhadda) đã bắt lỗi vị này vì đã làm hỏng cánh đồng ngô. Sau đó họ đã chia đôi cánh đồng, do vậy mà giải quyết được cuộc tranh chấp (DN­a.ii.588). Subhadda đã dùng gỗ đàn hương và các loại hương liệu thơm khác để chà xát lên kim thân của Padumuttara Buddha và đã cắm một lá cờ trên Thūpa (bảo tháp) của Ngài. Vào thời Kassapa Buddha, vị Aggasāvaka của Đức Phật là Tissa từng là con trai của Subhadda. Subhadda đã nói những lời miệt thị vị ấy, vì thế mà ngài đã chậm trễ trong việc được diện kiến Đức Phật trong kiếp sống cuối cùng của mình. Subhadda đã viên tịch vào đúng ngày ngài thọ giới và đạt được quả vị Arahant (Ap.i.100f).

Cuộc trò chuyện giữa Đức Phật và Subhadda tạo thành chủ đề của một tình huống tiến thoái lưỡng nan trong Milindapañha (p.130). Việc xuất gia của Subhadda là hành động "chính thức" cuối cùng của Đức Phật. Khp­a.,p.89.

07. Subhadda 07 draft

Subhadda 07. A lay disciple of Nāṭikā. He was an Anāgāmī and was born in the Suddhāvāsā, never to be reborn. DN.ii.92; SN.v.348f.

Subhadda 07. Một nam cư sĩ đệ tử ở Nāṭikā. Vị ấy là một Anāgāmī (Bất lai) và đã được tái sinh vào Suddhāvāsā (Tịnh Cư thiên), không bao giờ còn tái sinh nữa. DN.ii.92; SN.v.348f.

01. Subhaddā 01 draft

Subhaddā 01. Aggasāvikā of Revata Buddha. Ja.i.35; Bv.vi.22.

Subhaddā 01. Aggasāvikā (nữ Đệ nhất Thượng thủ Thanh văn) của Revata Buddha. Ja.i.35; Bv.vi.22.

02. Subhaddā 02 draft

Subhaddā 02. One of the chief women lay supporters of Sujāta Buddha. Bv.xiii.30.

Subhaddā 02. Một trong những nữ đại thí chủ của Sujāta Buddha. Bv.xiii.30.

03. Subhaddā 03 draft

Subhaddā 03. Wife of Tissa Buddha before his renunciation. Bv.xviii.18.

Subhaddā 03. Vợ của Tissa Buddha trước khi Ngài xuất gia. Bv.xviii.18.

04. Subhaddā 04 redirect

Subhaddā 04. See Mahā Subhaddā and Cūḷa Subhaddā.

Chưa dịch.

05. Subhaddā 05 draft

Subhaddā 05. Daughter of the Madda king and wife of the king of Benares. See the Chaddantajātaka.

Subhaddā 05. Con gái của vị vua xứ Madda và là vợ của vị vua xứ Benares. Xem Chaddantajātaka.

06. Subhaddā 06 draft

Subhaddā 06. Wife of Mahā Sudassana. See Mahā Subhaddā.

Subhaddā 06. Vợ của Mahā Sudassana. Xem Mahā Subhaddā.

07. Subhaddā 07 draft

Subhaddā 07. A celestial musician or a musical instrument. Vv-a.94, 211.

Subhaddā 07. Một nhạc công cõi trời hoặc một loại nhạc cụ. Vv-a.94, 211.

08. Subhaddā 08 draft

Subhaddā 08. One of the five daughters of Vijayabāhu I. and Tilokasundarī. She married Vīrabāhu. Cv.lix.31, 43.

Subhaddā 08. Một trong năm người con gái của Vijayabāhu I và Tilokasundarī. Cô kết hôn với Vīrabāhu. Cv.lix.31, 43.