Upaka draft
01. Upaka 01 draft
Upaka 01. An Ājīvaka whom the Buddha met on his way between Gayā and the Bodhi Tree, after he set out from Isipatana for the preaching of the First Sermon. Upaka questioned the Buddha on his attainments, and when the Buddha told him what he had accomplished he asked the Buddha if he were “Anantajina.” When the Buddha acknowledged it, Upaka shook his head saying, “It may be so, friend,” and went along by another road (Ja.i.81; Vin.i.8; MN.i.170-1; Dhpa.iv.71-2). It is said (DNa.ii.471) that the Buddha walked all the way from the Bodhi Tree to Isipatana – instead of flying through the air, as is the custom of Buddhas – because he wished to meet Upaka.
After this meeting Upaka went to the Vaṅkahāra country and there, having fallen desperately in love with Cāpā, the daughter of a huntsman who looked after him, starved for seven days and in the end persuaded the huntsman to give her to him in marriage. For a living, Upaka hawked about the flesh brought by the huntsman. In due course Cāpā bore him a son, Subhadda. When the baby cried, Cāpā sang to him saying, “Upaka’s son, ascetic’s son, game-dealer’s boy, don’t cry,” thus mocking her husband. In exasperation he told her of his friend Anantajina, but she did not stop teasing him. One day, in spite of her attempts to keep him, he left her and went to the Buddha at Sāvatthī. The Buddha, seeing him coming, gave orders that anyone asking for Anantajina should be brought to him. Having learnt from Upaka his story, the Buddha had him admitted to the Saṅgha. As a result of his meditation, Upaka became an Anāgāmī and was reborn in the Avihā heaven (Thīga.220ff; MNa.i.388f. Upaka’s story is also given in Snp-a.i.258ff, with several variations in detail). The Saṁyuttanikāya (i.35, 60) records a visit paid to the Buddha by Upaka and six other beings born in Avihā. According to the Majjhima Commentary (i.389), Upaka became an Arahant as soon as he was born in Avihā.
In the Therīgāthā he is also called Kāḷa (v.309. This may have been a term of affection used because of his dark colour) and his birth-place is given as Nāla, a village near the Bodhi Tree, where he is said to have been living with his wife at the time he left her (Thīga.225).
Later, Cāpā, too, left the world and became an Arahant Therī.
The Divyāvadāna (p.393) calls him Upaka Upagana.
The enumeration of the Buddha’s virtues which was made to Upaka is not regarded as a real dhammadesanā because it took place before the preaching of the first sermon. It produced only a vāsanā-bhāgiya result, not sekha-bhāgiya or nibaddha-bhāgiya (Uda.54).
The words of the Buddha’s speech to Upaka are often quoted (e.g., Kv.289).
Upaka 01. Một vị Ājīvaka mà Đức Phật đã gặp trên đường đi giữa Gayā và Cây Bồ-đề, sau khi ngài khởi hành từ Isipatana để thuyết bài Pháp Đầu tiên. Upaka đã hỏi Đức Phật về những sự chứng đắc của ngài, và khi Đức Phật nói cho ông ấy biết những gì ngài đã đạt được, ông ấy đã hỏi Đức Phật liệu ngài có phải là “Anantajina.” Khi Đức Phật thừa nhận điều đó, Upaka lắc đầu nói rằng, “Có thể là như vậy, này bạn,” và bỏ đi theo một con đường khác (Ja.i.81; Vin.i.8; MN.i.170-1; Dhpa.iv.71-2). Có nói rằng (DNa.ii.471) Đức Phật đã đi bộ trên toàn bộ quãng đường từ Cây Bồ-đề đến Isipatana – thay vì bay qua không trung, như phong cách thường thấy của các vị Phật – bởi vì ngài muốn gặp Upaka.
Sau cuộc gặp gỡ này, Upaka đã đi đến quốc gia Vaṅkahāra và tại đó, sau khi đem lòng yêu say đắm Cāpā, con gái của một người thợ săn đã chăm sóc ông, ông đã nhịn đói suốt bảy ngày và cuối cùng thuyết phục được người thợ săn gả cô cho ông. Để kiếm sống, Upaka đã rao bán thịt do người thợ săn mang về. Đến kỳ hạn Cāpā sinh cho ông một người con trai, Subhadda. Khi đứa bé khóc, Cāpā hát cho nó nghe, nói rằng, “Con trai của Upaka, con trai của tu sĩ, con trai của kẻ buôn thịt thú rừng, đừng khóc,” qua đó chế nhạo chồng mình. Trong sự bực tức, ông kể cho cô nghe về người bạn Anantajina của mình, nhưng cô vẫn không ngừng trêu chọc ông. Một ngày nọ, bất chấp những nỗ lực níu giữ của cô, ông đã rời bỏ cô và đi đến gặp Đức Phật ở Sāvatthī. Đức Phật, khi nhìn thấy ông đang đi tới, đã ra lệnh rằng bất cứ ai hỏi thăm Anantajina đều phải được dẫn đến chỗ ngài. Sau khi biết được câu chuyện của Upaka, Đức Phật đã cho phép ông gia nhập Tăng đoàn. Nhờ vào thiền định của mình, Upaka đã trở thành một Anāgāmī và được tái sinh trong cõi trời Avihā (Thīga.220ff; MNa.i.388f. Câu chuyện của Upaka cũng được đưa ra trong Snp-a.i.258ff, với một số biến thể về chi tiết). Saṁyuttanikāya (i.35, 60) ghi lại một chuyến viếng thăm Đức Phật của Upaka và sáu chúng sinh khác được sinh ra ở Avihā. Theo Chú giải Majjhima (i.389), Upaka trở thành một Arahant ngay khi ông được sinh ra ở Avihā.
Trong Therīgāthā ông cũng được gọi là Kāḷa (v.309. Đây có thể là một thuật ngữ biểu thị sự yêu mến được sử dụng vì màu da sẫm của ông) và nơi sinh của ông được đưa ra là Nāla, một ngôi làng gần Cây Bồ-đề, nơi mà ông được cho là đã sống cùng với vợ mình vào thời điểm ông rời bỏ cô (Thīga.225).
Về sau, Cāpā cũng rời bỏ thế gian và trở thành một Arahant Therī.
Divyāvadāna (p.393) gọi ông là Upaka Upagana.
Sự liệt kê các ân đức của Đức Phật được thực hiện đối với Upaka không được coi là một dhammadesanā thực sự bởi vì nó diễn ra trước việc thuyết bài pháp đầu tiên. Nó chỉ tạo ra kết quả vāsanā-bhāgiya, không phải sekha-bhāgiya hay nibaddha-bhāgiya (Uda.54).
Những lời trong bài nói chuyện của Đức Phật với Upaka thường được trích dẫn (ví dụ, Kv.289).
02. Upaka 02 draft
Upaka 02. Upaka Maṇḍikāputta. He once visited the Buddha at Gijjhakūṭa and stated before him his view that whoever starts abusive talk of another, without being able to make good his case, is blameworthy. The Buddha agrees and says that Upaka himself has been guilty of this offence. The Commentary (ANa.ii.554) explains that Upaka was a supporter of Devadatta. Upaka protests against being caught in a big noose of words, like a fish caught as soon as he pops up his head. The Buddha explains that it is necessary for him to teach with endless variations of words and similes. Upaka is pleased with the Buddha’s talk and reports the conversation to Ajātasattu. The king shows his anger at the man’s presumption in having remonstrated with the Buddha (AN.ii.181f), and the Commentary adds that he had him seized by the neck and cast out.
Buddhaghosa says (ANa.ii.554-5) that Upaka went to visit the Buddha in order to find out whether the Buddha would blame him for being a supporter of Devadatta. According to others, he came to abuse the Buddha because he had heard that the Buddha had consigned Devadatta to hell. He was apparently of low caste, and Ajātasattu addresses him as “salt-worker’s boy” (loṇakārakadāraka) (AN.ii.182).
Upaka 02. Upaka Maṇḍikāputta. Có lần ông đã đến thăm Đức Phật tại Gijjhakūṭa và bày tỏ trước ngài quan điểm của ông rằng bất cứ ai bắt đầu lời nói lăng mạ người khác, mà không thể chứng minh được lý lẽ của mình, thì đều đáng bị khiển trách. Đức Phật đồng ý và nói rằng chính bản thân Upaka đã phạm phải lỗi lầm này. Chú giải (ANa.ii.554) giải thích rằng Upaka là một người ủng hộ Devadatta. Upaka phản đối việc bị mắc vào một thòng lọng ngôn từ lớn, giống như một con cá bị mắc câu ngay khi nó vừa ngoi đầu lên. Đức Phật giải thích rằng ngài cần phải giảng dạy với vô số biến thể của ngôn từ và sự so sánh. Upaka hài lòng với bài nói chuyện của Đức Phật và thuật lại cuộc trò chuyện cho Ajātasattu. Nhà vua tỏ ra tức giận trước sự xấc xược của người này khi đã lớn tiếng khuyên can Đức Phật (AN.ii.181f), và Chú giải nói thêm rằng nhà vua đã sai người túm cổ và ném ông ra ngoài.
Buddhaghosa nói (ANa.ii.554-5) rằng Upaka đã đi thăm Đức Phật nhằm tìm hiểu xem liệu Đức Phật có khiển trách ông vì là một người ủng hộ Devadatta hay không. Theo những người khác, ông đến để lăng mạ Đức Phật bởi vì ông nghe nói rằng Đức Phật đã đày Devadatta xuống địa ngục. Rõ ràng là ông thuộc đẳng cấp thấp, và Ajātasattu gọi ông là “con trai của thợ làm muối” (loṇakārakadāraka) (AN.ii.182).