Subha draft
01. Subha 01 draft
Subha 01. A Pacceka Buddha. MN.iii.70; Apa.i.106.
Subha 01. Một vị Pacceka Buddha. MN.iii.70; Apa.i.106.
02. Subha 02 draft
Subha 02. A young man (māṇava) called Todeyyaputta. He once visited the Buddha in Sāvatthī, asking him various questions. The interview is described in the Subhasutta (q.v.). At the end of the discourse he declared himself the Buddha’s follower. While on his way back from the city, he met Jāṇussoṇī, and, on being asked what he thought of the Buddha, spoke of him in terms of the highest praise, saying that none but Gotama’s own peer could utter sufficient praise of him (MN.i.196f., 208f.; Jāṇussoṇī addresses him as Bhāradvāja). Subha is described (MNa.ii.802; cf. MN.i.202) as the son of the Brahmin Todeyya (q.v.) of Tudigāma. Elsewhere however, a different account is given of his conversion (DNa.ii.384f.; cf. MNa.ii.963f., which adds that the Buddha proved the identity of the dog by getting it to indicate the place where Todeyya’s treasure lay buried).
Subha’s father was a very rich merchant, chaplain to Pasenadi, but a great miser. After death he was born as a dog in the same home. One day, when the Buddha was going his alms round in Tudigāma near Sāvatthī, he arrived at Subha’s house. The dog saw the Buddha and barked, and the Buddha addressed it as “Todeyya.” The dog thereupon ran into the house and lay on a bed, from which no one could drive it away. When Subha asked the cause of the uproar, he was told the story. Thereupon he was very angry, saying that his father had been born in the Brahmaloka, and, in order to refute the Buddha, he visited the monastery. This was the occasion for the preaching of the Subhasutta. Soon after the Buddha’s death, when Ānanda, was staying in Sāvatthī, Subha sent a young man to Ānanda, with his respects and an invitation to his house. Ānanda, having taken medicine, did not go that day. But he went the next day, accompanied by a monk of Cetiya (Cetaka). Their conversation is recorded in the Subhasutta (2) (DN.i.204f). See also Cūḷa Kammavibhaṅgasutta, which too was preached to Subha.
Subha 02. Một thanh niên (māṇava) tên là Todeyyaputta. Có lần vị này đến yết kiến Đức Phật tại Sāvatthī, và hỏi Ngài nhiều câu hỏi khác nhau. Cuộc trò chuyện này được mô tả trong Subhasutta (q.v.). Vào cuối thời pháp, vị ấy đã tuyên bố mình là đệ tử của Đức Phật. Khi đang trên đường từ thành phố trở về, vị ấy gặp Jāṇussoṇī, và khi được hỏi rằng vị ấy nghĩ gì về Đức Phật, vị ấy đã nói về Ngài bằng những lời tán thán cao nhất, nói rằng không ai khác ngoài một người sánh ngang với Gotama mới có thể nói ra những lời tán thán đầy đủ dành cho Ngài (MN.i.196f., 208f.; Jāṇussoṇī gọi vị ấy là Bhāradvāja). Subha được mô tả (MNa.ii.802; cf. MN.i.202) là con trai của vị Bà-la-môn Todeyya (q.v.) ở Tudigāma. Tuy nhiên, ở một nơi khác, lại có một ghi chép khác về sự chuyển hóa của vị này (DNa.ii.384f.; cf. MNa.ii.963f., trong đó nói thêm rằng Đức Phật đã chứng minh thân phận của con chó bằng cách để nó chỉ ra nơi mà kho báu của Todeyya đã được chôn cất).
Cha của Subha là một thương nhân rất giàu có, giáo sĩ của Pasenadi, nhưng lại là một người rất keo kiệt. Sau khi chết, ông ta tái sinh làm một con chó ngay trong cùng ngôi nhà đó. Một ngày nọ, khi Đức Phật đang đi khất thực ở Tudigāma gần Sāvatthī, Ngài đến nhà của Subha. Con chó nhìn thấy Đức Phật và sủa, và Đức Phật đã gọi nó là "Todeyya". Con chó bèn chạy vào nhà và nằm trên một chiếc giường, không ai có thể đuổi nó đi. Khi Subha hỏi nguyên nhân của sự huyên náo đó, vị ấy đã được nghe kể lại câu chuyện. Lúc đó vị ấy rất tức giận, nói rằng cha của mình đã được tái sinh ở cõi Brahmaloka, và, để bác bỏ Đức Phật, vị ấy đã đến tu viện. Đây là duyên cớ cho bài thuyết pháp Subhasutta. Ngay sau khi Đức Phật viên tịch, khi Ānanda đang ở Sāvatthī, Subha đã phái một thanh niên đến gặp Ānanda, với lời vấn an và một lời thỉnh mời đến nhà mình. Hôm đó Ānanda vừa uống thuốc nên đã không đến. Nhưng ngài đã đến vào ngày hôm sau, cùng với một vị tỳ-kheo xứ Cetiya (Cetaka). Cuộc trò chuyện của họ được ghi lại trong Subhasutta (2) (DN.i.204f). Xem thêm Cūḷa Kammavibhaṅgasutta, bài kinh cũng được thuyết cho Subha.
03. Subha 03 draft
Subha 03. A palace guard, son of Datta. He closely resembled King Yasalālakatissa in appearance, and the king used to place him on the throne, decked in royal ornaments, and watch the ministers doing obeisance to him, while he himself took the guard’s place. One day, while Subha was on the throne, he reprimanded the king, disguised as a guard, for smiling disrespectfully, and had him led away and executed before the truth was discovered. Subha then became king and ruled for six years (120-6 CE.). He built the Subharājapariveṇa, the Vallīvihāra, the Ekadvāra vihāra and the Nandigāmaka vihāra. He was deposed by Vasabha (Mhv.xxxv.51ff.; Dpv.xxi.45). His daughter married Vaṅkanāsikatissa. She had been adopted by a bricklayer, but Vasabha discovered her identity and married her to his son. Her good fortune was owing to a meal she had given to an Arahant Thera. For details see Mhv.xxxv.101ff.; see also Cv.xxxviii.13f.
Subha 03. Một lính gác hoàng cung, con trai của Datta. Ông ta có ngoại hình rất giống Vua Yasalālakatissa, và nhà vua thường đặt ông ta lên ngai vàng, trang hoàng bằng những món đồ trang sức của hoàng gia, và quan sát các đại thần đảnh lễ ông ta, trong khi bản thân nhà vua thì đứng ở vị trí của người lính gác. Một ngày nọ, khi Subha đang ngồi trên ngai vàng, ông ta đã khiển trách nhà vua, lúc đó đang cải trang thành lính gác, vì đã mỉm cười một cách thiếu tôn trọng, và sai người lôi nhà vua đi hành quyết trước khi sự thật được phát hiện ra. Sau đó Subha trở thành vua và trị vì trong sáu năm (120-6 CN.). Ông đã xây dựng Subharājapariveṇa, Vallīvihāra, Ekadvāra vihāra và Nandigāmaka vihāra. Ông đã bị lật đổ bởi Vasabha (Mhv.xxxv.51ff.; Dpv.xxi.45). Con gái của ông kết hôn với Vaṅkanāsikatissa. Cô đã được một người thợ xây nhận nuôi, nhưng Vasabha đã phát hiện ra danh tính của cô và gả cô cho con trai mình. Vận may của cô là nhờ vào một bữa ăn mà cô đã cúng dường cho một vị Arahant Thera. Để biết chi tiết xem Mhv.xxxv.101ff.; xem thêm Cv.xxxviii.13f.
04. Subha 04 draft
05. Subha 05 draft
06. Subha 06 draft
01. Subhā 01 draft
Subhā 01. A group of Brahmas; the group includes the Parittasubhā, the Appamāṇasubhā and the Subhakiṇhā. MN.iii.102.
Subhā 01. Một nhóm các vị Phạm thiên (Brahma); nhóm này bao gồm Parittasubhā, Appamāṇasubhā và Subhakiṇhā. MN.iii.102.
02. Subhā 02 draft
Subhā 02. Subhā Kammāradhītā She was the daughter of a rich goldsmith of Rājagaha. One day she went to pay obeisance to the Buddha and he preached to her. She became a Sotāpanna, and later she joined the Saṅgha under Mahā Pajāpatī. From time to time her relations tried to persuade her to leave the Saṅgha and return to the world. One day she set forth, in twenty-four verses, the dangers of household life and dismissed them, convinced of her rightness. Then, striving for insight, she attained Arahant-ship on the eighth day (Thīg.vs.338-61). The Buddha saw this and praised her in three verses (Thīg.vs.362-4). Sakka visited her with the gods of Tāvatiṁsa and uttered another verse in her praise. Thīga.365; Thīga.236f.
Subhā 02. Subhā Kammāradhītā. Cô là con gái của một thợ kim hoàn giàu có ở Rājagaha. Một ngày nọ, cô đến đảnh lễ Đức Phật và Ngài đã thuyết pháp cho cô. Cô trở thành một Sotāpanna, và sau đó gia nhập Tăng đoàn dưới sự chứng minh của Mahā Pajāpatī. Thỉnh thoảng, những người họ hàng lại cố gắng thuyết phục vị ấy rời bỏ Tăng đoàn và trở lại thế tục. Một ngày nọ, vị ấy đã trình bày, trong hai mươi bốn bài kệ, về những mối nguy hiểm của đời sống tại gia và bác bỏ họ, với niềm tin vững chắc vào lẽ phải của mình. Sau đó, nỗ lực tu tập tuệ giác, vị ấy đã đạt được quả vị Arahant vào ngày thứ tám (Thīg.vs.338-61). Đức Phật thấy được điều này và đã tán thán vị ấy bằng ba bài kệ (Thīg.vs.362-4). Sakka cùng chư thiên cõi Tāvatiṁsa đã đến thăm vị ấy và thốt lên một bài kệ khác để tán thán vị ấy. Thīga.365; Thīga.236f.
03. Subhā 03 draft
Subhā 03. Subhā Jīvakambavanikā She belonged to an eminent Brahmin family of Rājagaha, and, seeing the bane in the pleasures of sense, became a nun under Pajāpatī Gotamī. She was called Subhā because her body was beautiful. One day, in Jīvakambavana, a libertine, in the prime of youth, seeing her going to her siesta, stopped her, inviting her to sensual pleasures. She talked to him of the evils of such pleasures, but he persisted. Seeing that he was particularly enamoured of the beauty of her eyes, she pulled out one of them, saying: “Come, here is the offending eye.” The man was appalled and asked her forgiveness. Subhā went to the Buddha, and, at sight of him, her eye recovered. Filled with joy, she stood worshipping him, and he taught her and gave her an exercise for meditation. She developed insight and became an Arahant. Thīg.vss.366-399; Thīga.245f.
Subhā 03. Subhā Jīvakambavanikā. Cô thuộc về một gia đình Bà-la-môn ưu tú ở Rājagaha, và khi nhìn thấy mầm mống tai họa trong những thú vui nhục dục, cô đã trở thành một vị tỳ-kheo-ni dưới sự hướng dẫn của Pajāpatī Gotamī. Cô được gọi là Subhā vì thân hình của cô rất xinh đẹp. Một ngày nọ, ở Jīvakambavana, một kẻ phóng đãng, đang độ tuổi thanh xuân, nhìn thấy cô đang đi nghỉ trưa, đã chặn cô lại, rủ rê cô tham gia vào những thú vui nhục dục. Cô nói với hắn về những tác hại của những thú vui đó, nhưng hắn vẫn ngoan cố. Thấy rằng hắn đặc biệt say đắm vẻ đẹp của đôi mắt cô, cô đã móc một bên mắt ra, nói rằng: "Đến đây, đây là con mắt đầy tội lỗi." Gã đàn ông kinh hoàng và xin cô tha thứ. Subhā đã đến yết kiến Đức Phật, và khi nhìn thấy Ngài, mắt cô đã hồi phục. Tràn đầy hoan hỷ, cô đứng đảnh lễ Ngài, và Ngài đã dạy cô và giao cho cô một đề mục thiền định. Cô đã phát triển tuệ giác và trở thành một Arahant. Thīg.vss.366-399; Thīga.245f.