Gotama draft, redirect

01. Gotama 01 draft

Gotama 01. Gotama Thera. He belonged to a Brahmin family of Rājagaha and was initiated at the age of seven. When he was seventeen, he fell into bad company, gave all he had to a courtesan and broke his vow of celibacy. He was then filled with remorse at the thought of what he had done, but the Buddha appeared before him and he entered the Saṅgha, becoming an Arahant in the tonsure-hall.

He had been a householder in the time of Vipassī Buddha and had given to the Buddha an āmoda-fruit (Thag.137f.; Thag­a.i.256f).

He is evidently identical with Āmodaphaliya of the Apadāna. Ap.ii.447.

Gotama 01. Gotama Thera. Ông xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn của Rājagaha và thọ giới lúc bảy tuổi. Khi lên mười bảy tuổi, ông kết bạn với những kẻ xấu, trao tất cả những gì mình có cho một kỹ nữ và phá vỡ lời thề độc thân của mình. Sau đó ông cảm thấy hối hận vô cùng khi nghĩ đến những gì mình đã làm, nhưng Đức Phật đã hiện ra trước mặt ông và ông đã gia nhập Tăng đoàn, trở thành một Arahant tại phòng cạo đầu.

Ông từng là một gia chủ trong thời đại của Vipassī Buddha và đã cúng dường cho Đức Phật một quả āmoda (Thag.137f.; Thag­a.i.256f).

Ông rõ ràng là cùng một người với Āmodaphaliya của Apadāna. Ap.ii.447.

02. Gotama 02 draft

Gotama 02. Gotama Thera. He belonged to the Sākiyan clan and came to be known only by his gotta-name. He entered the Saṅgha when the Buddha visited his kinsfolk and, in due course, became an Arahant. In the time of Sikhī Buddha he had offered eight campaka-flowers at the Buddha’s Thūpa (Thag.258-60; Thag­a.i.374f). He is evidently identical with Citapūjaka of the Apadāna. Ap.ii.407.

Gotama 02. Gotama Thera. Ông thuộc gia tộc Sākiyan và chỉ được biết đến qua tên gotta của ông. Ông gia nhập Tăng đoàn khi Đức Phật đến thăm họ hàng của Ngài và, đến đúng thời điểm, đã trở thành một vị Arahant. Trong thời đại của Sikhī Buddha, ông đã cúng dường tám bông hoa campaka tại Thūpa của Đức Phật (Thag.258-60; Thag­a.i.374f). Ông rõ ràng là cùng một người với Citapūjaka của Apadāna. Ap.ii.407.

03. Gotama 03 draft

Gotama 03. Gotama Thera also called Aparagotama Thera. He was older than the Buddha and belonged to an Udicca-Brahmin family of Sāvatthī. He was learned in the Vedas and was an unrivalled orator. When the Buddha came to Sāvatthī for the dedication of Jetavana, he heard the Buddha preach and entered the Saṅgha, attaining Arahant-ship in the tonsure-hall. When he returned to Sāvatthī, after a long residence in the Kosala country, many of his relations, eminent Brahmins, came to him and counselled him as to the various gospels (suddhivādā) current among the people; he told them of the Buddha’s teaching. Thag.587-96; Thag­a.i.529f.

Gotama 03. Gotama Thera cũng được gọi là Aparagotama Thera. Ông lớn tuổi hơn Đức Phật và xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn Udicca của Sāvatthī. Ông tinh thông các kinh Veda và là một nhà hùng biện vô song. Khi Đức Phật đến Sāvatthī để dự lễ hiến cúng Jetavana, ông đã nghe Đức Phật thuyết pháp và gia nhập Tăng đoàn, đắc quả vị Arahant trong phòng cạo đầu. Khi ông quay trở về Sāvatthī, sau một thời gian dài cư trú tại đất nước Kosala, nhiều người thân của ông, những vị Bà-la-môn xuất chúng, đã đến tìm ông và xin ông lời khuyên về nhiều giáo lý (suddhivādā) đang lưu hành trong dân chúng; ông đã kể cho họ nghe về những lời dạy của Đức Phật. Thag.587-96; Thag­a.i.529f.

04. Gotama 04 draft

Gotama 04. Gotama Thera. An Arahant, living in Piyaṅgudīpa He was the teacher of Duṭṭhagāmaṇī (Mhv.xx.69). When the latter, during his flight from his brother, wished to give alms to a monk before eating, Gotama knew his desire and sent a monk named Tissa to accept the alms. When the food was brought to Piyaṅgudīpa, Gotama offered morsels of it to five hundred monks (twelve thousand, according to Mhv.xxxii.65) and, refilling the bowl with scraps of food, sent it back by air to the prince (Mhv.xxiv.24, 30; Mhv­ṭ.465).

Gotama 04. Gotama Thera. Một vị Arahant, sống ở Piyaṅgudīpa. Ông là thầy của Duṭṭhagāmaṇī (Mhv.xx.69). Khi vị sau, trong khi chạy trốn khỏi em trai của mình, mong muốn cúng dường đồ ăn cho một vị tỳ-kheo trước khi ăn, Gotama đã biết được ước muốn của ông và cử một vị tỳ-kheo tên là Tissa đến để nhận đồ ăn. Khi thức ăn được mang đến Piyaṅgudīpa, Gotama đã cúng dường những phần nhỏ của nó cho năm trăm vị tỳ-kheo (mười hai ngàn vị, theo Mhv.xxxii.65) và, đổ đầy bát bằng những mẩu thức ăn vụn, rồi gửi nó trở lại cho vị hoàng tử qua đường không (Mhv.xxiv.24, 30; Mhv­ṭ.465).

05. Gotama 05 draft

Gotama 05. The name of the clan to which the Buddha and the Sākiyans belonged. The members of the clan, though Khattiyas, claimed descent from a Brahmin Isi, Gotama (for an explanation of this see Thomas: Life and Legend of the Buddha, 22f). Gotama and Aṅgīras are both enumerated in the Pravara ceremony as the ancestors of the Gotama clan (Aśvalāyana, Srautasūtra, 12, 11, 1).

Late Buddhists appear to have forgotten the Vedic Ṛsi, for, according to an ancient legend, Okkāka, the immediate ancestor of the Sākiyans, was born of an egg formed of the coagulated blood and semen of an ascetic Gotama, as he lay impaled for the alleged murder of a courtesan. The egg was hatched by the sun (Mvu.i.338ff; Rockhill, Buddha, 9f).

Gotama is the name by which the Buddha is addressed by Brahmins and others who are not his followers. In one place, at least, the Buddha is represented as addressing the Sākiyans as “Gotamā.” (SN.iv.183). The Gotama-gotta is classed among the higher gottas, together with such gottas as Moggallāna, Kaccāyana and Vāseṭṭha (Vin.iv.6; DN­a.i.246f, uccākulaparidīpanaṁ). According to the Theragāthā Commentary (ii.204; also AN­a.i.395; Gotamabuddhassa sāvako pi Gotamo), the Buddha’s disciples (e.g., in the case of Vaṅgīsa) were also called Gotama, even when they did not naturally belong to that clan. See also Sakyā.

Gotama 05. Tên của gia tộc mà Đức Phật và những người Sākiyan thuộc về. Những thành viên của gia tộc, mặc dù là Khattiya, nhưng lại tuyên bố có nguồn gốc từ một vị Isi Bà-la-môn, là Gotama (để có lời giải thích về điều này xem Thomas: Life and Legend of the Buddha, 22f). Cả Gotama và Aṅgīras đều được liệt kê trong nghi lễ Pravara với tư cách là tổ tiên của gia tộc Gotama (Aśvalāyana, Srautasūtra, 12, 11, 1).

Những tín đồ Phật giáo muộn dường như đã quên mất Ṛsi của Veda, bởi vì, theo một truyền thuyết cổ, Okkāka, vị tổ tiên trực tiếp của người Sākiyan, được sinh ra từ một quả trứng hình thành từ máu và tinh dịch đông đặc của một vị khổ hạnh tên là Gotama, khi ông nằm bị đâm xuyên vì bị cáo buộc tội giết một kỹ nữ. Quả trứng được ấp nở nhờ mặt trời (Mvu.i.338ff; Rockhill, Buddha, 9f).

Gotama là cái tên mà Đức Phật được gọi bởi các Bà-la-môn và những người khác không phải là tín đồ của Ngài. Tại một chỗ, ít nhất, Đức Phật được miêu tả là đang xưng hô với người Sākiyan bằng “Gotamā.” (SN.iv.183). Gotta Gotama được xếp vào nhóm các gotta cao hơn, cùng với các gotta như Moggallāna, KaccāyanaVāseṭṭha (Vin.iv.6; DN­a.i.246f, uccākulaparidīpanaṁ). Theo Chú giải Theragāthā (ii.204; cũng xem AN­a.i.395; Gotamabuddhassa sāvako pi Gotamo), đệ tử của Đức Phật (e.g., trong trường hợp của Vaṅgīsa) cũng được gọi là Gotama, ngay cả khi họ vốn không thuộc về gia tộc đó. Xem thêm Sakyā.

06. Gotama 06 draft

Gotama 06. A Brahmin sage, his full name being Aṅgīrasa Gotama. See Aṅgīrasa (7).

Gotama 06. Một vị hiền triết Bà-la-môn, tên đầy đủ của ông là Aṅgīrasa Gotama. Xem Aṅgīrasa (7).

07. Gotama 07 draft

Gotama 07. The name of the Brahmin chaplain in the Bhikkhāparamparajātaka. The scholiast adds that it was his gotta-name (Ja.iv.371, 372).

Gotama 07. Tên của vị tế sư Bà-la-môn trong Bhikkhāparamparajātaka. Người viết chú giải nói thêm rằng đó là tên gotta của ông (Ja.iv.371, 372).

08. Gotama 08 draft

Gotama 08. A mountain near Himavā (Ap.i.162).

Gotama 08. Một ngọn núi gần Himavā (Ap.i.162).

09. Gotama 09 draft

Gotama 09. A Thera in Ceylon who wrote a Sinhalese paraphrase to the Sambandhacintā. He belonged to the Araññavāsī sect and was a pupil of Vanaratana Ānanda (PLC.199, 220).

Gotama 09. Một vị Thera ở Tích Lan, người đã viết một bản diễn giải tiếng Sinhalese cho quyển Sambandhacintā. Ông thuộc phái Araññavāsī và là đệ tử của Vanaratana Ānanda (PLC.199, 220).

10. Gotama 10 redirect

Redirect target: Āḷavī Gotama

Gotama 10. See Āḷavī Gotama.

Chưa dịch.

11. Gotama 11 draft

Gotama 11. Gotama Buddha. The last of the twenty-five Buddhas.

No comprehensive account of Gotama Buddha is as yet possible. The details given in this article are those generally accepted by orthodox Theravādins and contained in their books, chiefly the Pāli Commentaries, more especially the Nidānakathā of the Jātaka and the Buddhavaṁsa Commentary

Biographical details are also found in the Mahā Vagga and the Cūḷa Vagga of the Vinayapiṭaka, the Buddhavaṁsa and in various scattered passages of the Nikāyas of the Suttapiṭaka. References to these are given where considered useful. Controversy exists with regard to many of the matters mentioned; for discussion of the varying views regarding these, reference should be made to the works of Oldenberg, Rhys Davids (both Professor and Mrs. Rhys Davids), Kern, E. J. Thomas and other scholars. Further particulars of persons and places mentioned can be obtained by reference to the articles under the respective names.

He was a Sākiyan (the Sākiyans were evidently subjects of the Kosala king; the Buddha calls himself a Kosalan, MN.ii.124), son of Suddhodana (all Pāli Commentaries and Sanskrit works represent the Buddha as the son of a king, descendant of a long line of famous ancestors), chief ruler of Kapilavatthu, and of Mahā Māyā, Suddhodana’s chief consort, and he belonged to the Gotamagotta.

Before his conception he was in the Tusita heaven, waiting for the due time for his birth in his last existence. Then, having made the “five investigations” (pañcavilokanāni) (see Buddha), he took leave of his companions and descended to earth. (According to the Lalitavistara he appointed the Bodhisatta Maitreya as king of Tusita in his place). Many wondrous and marvellous events attended his conception and birth. (Given in the Acchariyabbhutadhammasutta, MN.iii.118f; also DN.ii.12f. A more detailed account is found in Ja.i.47ff; both the Lalitavistara and the Mvu.ii.14ff differ as to the details given here of the conception and the birth).

The conception takes place on the full-moon day of Āsāḷha, with the moon in Uttarāsāḷha, and Māyā has no relations with her husband. She has a marvellous dream in which the Bodhisatta, as a white elephant, enters her womb through her side. When the dream is mentioned to the Brahmins, they foretell the birth of a son who will be either a universal monarch or a Buddha. An earthquake takes place and thirty-two signs appear, presaging the birth of a great being. The first of these signs is a boundless, great light, flooding every corner of the ten thousand worlds; everyone beholds its glory, even the fires in all hells being extinguished. Ten months after the conception, in the month of Visākha, Māyā wishes to visit her parents in Devadaha. On the way thither from Kapilavatthu she passes the beautiful Lumbini grove, in which she desires to wander; she goes to a great sāla-tree and seizes a branch in her hand; labour pains start immediately, and, when the courtiers retire, having drawn a curtain round her, even while standing, she is delivered of the child. It is the day of the full moon of Visākha; four Mahā Brahmas receive the babe in a golden net, and streams of water descend from the sky to wash him. The boy stands on the earth, takes seven steps northwards and utters his lion-roar, “I am the chief in the world.” On the same day seven other beings were born: the Bodhi-tree, Rāhula’s mother (Rāhulamātā, his future wife), the four Treasure-Troves (described at DN­a.i.284), his elephant, his horse Kanthaka, his charioteer Channa, and Kāḷudāyī. The babe is escorted back to Kapilavatthu on the day of his birth and his mother dies seven days later.

The Isi Asita (or Kāḷadevala), meditating in the Himālaya, learns from the Tāvatiṁsa gods of the birth of the Buddha, visits Suddhodana the same day and sees the boy, whom they both worship. Asita weeps for sorrow that he will not live to see the boy’s Buddhahood, but he instructs his nephew Nālaka (v.l. Naradatta) to prepare himself for that great day. On the fifth day after the birth is the ceremony of name-giving. One hundred and eight Brahmins are invited to the festival at the palace; eight of them – Rāma, Dhaja, Lakkhaṇa, Manti, Koṇḍañña, Bhoja, Suyāma and Sudatta – are interpreters of bodily marks, and all except Koṇḍañña prophesy two possibilities for the boy; but Koṇḍañña, the youngest, says, quite decisively, that he will be a Buddha. The name given to the boy at this ceremony is not actually mentioned, but from other passages it is inferred that it was Siddhattha (q.v.).

Among other incidents recounted of the Buddha’s boyhood is that of his attaining the first jhāna under a jambu-tree. One day he is taken to the state ploughing of the king where Suddhodana himself, with his golden plough, ploughs with the farmers. The nurses, attracted by the festivities, leave the child under a jambu-tree. They return to find him seated, cross-legged, in a jhāna, the shadow of the tree remaining still, in order to protect him. The king is informed and, for the second time, does reverence to his son. Ja.i.57f; MN­a.i.466f; the incident is alluded to in the Mahā Saccakasutta (MN.i.246); the corresponding incident recounted in Mahā Vastu (Mvu.ii.45f.) takes place in a park, and the details differ completely. The Lalitavistara has two versions, one in prose and one in verse and both resemble the Mahā Vastu; but in these the Buddha is represented as being much older. The Divyāvadāna (391) and the Tibetan versions (e.g., Rockhill, p.22) put the incident very much later in the Buddha’s life. Other incidents are given in Lalitavistara and Mahā Vastu.

The Bodhisatta is reported to have lived in the household for twenty-nine years a life of great luxury and excessive ease, surrounded by all imaginable comforts. He owns three palaces – Ramma, Suramma and Subha – for the three seasons. Mention is made of his luxurious life in AN.i.145; also in MN.i.504; further details are given in AN­a.i.378f.; Ja.i.58. See also Mvu.ii.115; cf. Vin.i.15; DN.ii.21.

When the Bodhisatta is sixteen years old, Suddhodana sends messengers to the Sākiyans asking that his son be allowed to seek a wife from among their daughters; but the Sākiyans are reluctant to send them, for, they say, though the young man is handsome, he knows no art; how, then, can he support a wife? When this is reported to the prince, he summons an assembly of the Sākiyans and performs various feats, chief of these being twelve feats with a bow which needs the strength of one thousand men. (The feats with the bow are described in the Sarabhaṅgajātaka, Ja.v.129f). The Sākiyans are so impressed that each sends him a daughter, the total number so sent being forty thousand. The Bodhisatta appoints as his chief wife the daughter of Suppabuddha, who, later, comes to be called Rāhulamātā. She is known under various names: Bhaddakaccā (or Bhaddakaccānā), Yasodharā, Bimbā, Bimbasundarī and Gopā. For a discussion see Rāhulamātā.

According to the generally accepted account, Gotama is twenty-nine when the incidents occur which lead to final renunciation. Following the prophecy of the eight Brahmins, his father had taken every precaution that his son should see no sign of old age, sickness or death. But the gods decide that the time is come for the Awakening, and instil into Gotama’s heart a desire to go into the park. On the way, the gods put before him a man showing signs of extreme age, and the Bodhisatta returns, filled with desire for renunciation. The king, learning this, surrounds him with even greater attractions, but on two other days Gotama goes to the park and the gods put before him a sick man and a corpse. (According to some accounts, e.g. that of the Dīghabhāṇakas, the four omens were all seen on the same day, Ja.i.59)

On the full-moon day of Āsāḷha, the day appointed for the Great Renunciation, Gotama sees a monk and hears from his charioteer praise of the ascetic life. Feeling very happy, he goes to the park to enjoy himself. Sakka sends Vissakamma himself to bathe and adorn him, and as Gotama returns to the city in all his majesty, he receives news of the birth of his son. Foreseeing in this news a bond, he decides to call the babe Rāhula (q.v.) (In some versions the Renunciation takes place seven days after the birth of Rāhula, Ja.i.62). Kisā Gotamī (q.v.) sees Gotama on the way to the palace and, filled with longing for him, sings to him a song containing the word nibbuta. The significance of the word (= extinguished, at peace) thrills him, and he sends to Kisā his priceless gold necklace which she, however, accepts as a token of love. Gotama enters the palace and sleeps. He wakes in the middle of the night to find his female musicians sleeping in attitudes which fill him with disgust and with loathing for the worldly life, and he decides to leave it. He orders Channa to saddle Kanthaka, and enters his wife’s room for a last look at her and their son.

He leaves the city on his horse Kanthaka, with Channa clinging to its tail. The Devas muffle the sound of the horse’s hoofs and of his neighing and open the city gates for Gotama to pass. Māra appears before Gotama and seeks to stay him with a promise that he shall be universal monarch within seven days. On his offer being refused, Māra threatens to shadow him always. Outside the city, at the spot where later was erected the Kanthakanivattanacetiya, Gotama turns his horse round to take a last look at Kapilavatthu. It is said that the earth actually turned, to make it easy for him to do so. Then, accompanied by the gods, he rides thirty leagues through three kingdoms – those of the Sākiyans, the Koḷiyans and the Mallas – and his horse crosses the river Anomā in one leap. On the other side, he gives all his ornaments to Channa, and with his sword cuts off hair and beard, throwing them up into the air, where Sakka takes them and enshrines them in the Cūḷāmaṇicetiya in Tāvatiṁsa. The Brahma Ghaṭīkāra offers Gotama the eight requisites of a monk, which he accepts and adopts. He then sends Channa and Kanthaka back to his father, but Kanthaka, broken-hearted, dies on the spot and is reborn as Kanthaka Devaputta.

The account given here is taken mainly from the Nidānakathā (Ja.i.59ff) and evidently embodies later tradition; cp. DN.ii.21ff. From passages found in the Piṭakas (e.g., AN.i.145; MN.i.163, 240; MN.ii.212f.) it would appear that the events leading up to the Renunciation were not so dramatic as given here, the process being more gradual. I do not, however, agree with Thomas (op.cit., 58) that, according to these accounts, the Bodhisatta left the world when “quite a boy.” I think the word dahara is used merely to indicate “the prime of youth,” and not necessarily “boyhood.” The description of the Renunciation in the Lalitavistara is very much more elaborate and adds numerous incidents, no account of which is found in the Pāli.

From Anomā the Bodhisatta goes to the mango-grove of Anupiya, and after spending seven days there walks to Rājagaha (a distance of thirty leagues) in one day, and there starts his alms rounds. Bimbisāra’s men, noticing him, report the matter to the king, who sends messengers to enquire who this ascetic is. The men follow Gotama to the foot of the Paṇḍava pabbata, where he eats his meal, and they then go and report to the king. Bimbisāra visits Gotama, and, pleased with his hearing, offers him the sovereignty. On learning the nature of Gotama’s quest, he wins from him a promise to visit Rājagaha first after the Awakening.

This incident is also mentioned in the Pabbajjāsutta (Snp.vv.405-24), but there it is the king who first sees Gotama. It is significant that, when asked his identity, Gotama does not say he is a king’s son. The Pāḷi version of the Sutta contains nothing of Gotama’s promise to visit Rājagaha, but the Mahā Vastu version (Mvu.ii.198-200), which places the visit later, has two verses, one of which contains the request and the other the acceptance; and the Snp­a. (ii.385f.), too, mentions the promise and tells that Bimbisāra was informed of the prophecy concerning Gotama. There is another version of the Mahā Vastu (ii.117-20) which says that Gotama went straight to Vaiśāli after leaving home, joining Āḷāra, and later visited Uddaka at Rājagaha. Here no mention is made of Bimbisāra. We are told in the Mahā Vaṁsa (ii.25ff) that Bimbisāra and Gotama (Siddhattha) had been playmates, Bimbisāra being the younger by five years. Bimbisāra’s father (Bhātī) and Suddhodana were friends.

Journeying from Rājagaha, Gotama in due course becomes a disciple of Āḷāra Kāḷāma. Having learnt and practised all that Āḷāra has to teach, he finds it unsatisfying and joins Uddaka Rāmaputta; but Uddaka’s doctrine leaves him still unconvinced and he abandons it. He then goes to Senānīnigama in Uruvelā and there, during six years, practises all manner of severe austerities, such as no man had previously undertaken. Once he falls fainting and a Deva informs Suddhodana that Gotama is dead. But Suddhodana, relying on the prophecy of Kāḷadevala, refuses to believe the news. Gotama’s mother, now born as a Devaputta in Tāvatiṁsa, comes to him to encourage him. At Uruvelā, the Pañcavaggiya monks are his companions, but now, having realised the folly of extreme asceticism, he decides to abandon it, and starts again to take normal food; thereupon the Pañcavaggiyas, disappointed, leave him and go to Isipatana.

Ja.i.66f. The Therīgāthā Commentary (p.2) mentions another teacher of Gotama, named Bhaggava, whom Gotama visited before Āḷāra. Lalitavistara (330 264) contains a very elaborate account of Gotama’s visits to teachers; he goes first to two Brahmin women, Śākī and Padmā, then to Raivata and Rajaka, son of Trimaṇḍika, and finally (as far as this chapter is concerned) to Āḷāra at Vaiśāli. A poem containing an account of the meeting of Gotama with Bimbisāra is inserted into this account. The next chapter tells of Uddaka. An account of Gotama’s visits to teachers and of the details of his austerities is also given in the Mahā Saccakasutta, already referred to (MN.i.240ff); the Mahā Sīhanādasutta (MN.i.77ff) contains a long and detailed account of his extreme asceticisms. See also MN.i.163ff; ii.93f.

Gotama’s desire for normal food is satisfied by an offering brought by Sujātā to the Ajapāla banyan tree under which he is seated. She had made a vow to the tree, and her wish having been granted, she takes her slave-girl, Puṇṇā, and goes to the tree prepared to fulfil her promise. They take Gotama to be the Tree-god, come in person to accept her offering of milk-rice; the offering is made in a golden bowl and he takes it joyfully. Five dreams he had the night before convince Gotama that he will that day become the Buddha. (The dreams are recounted in AN.iii.240 and in Mvu.ii.136f). It is the full-moon day of Visākha; he bathes at Suppatiṭṭha in the Nerañjarā, eats the food and launches the bowl upstream, where it sinks to the abode of the Nāga king, Kāḷa (Mahā Kāḷa).

Gotama spends the rest of the day in a sāla-grove and, in the evening, goes to the foot of the Bodhi-tree, accompanied by various divinities; there the grass-cutter Sotthiya gives him eight handfuls of grass; these, after investigation, Gotama spreads on the eastern side of the tree, where it becomes a seat fourteen hands long, on which he sits cross-legged, determined not to rise before attaining Awakening, Ja.i.69.

The Piṭakas know nothing of Sujātā’s offering or of Sotthiya’s gift. Lalitavistara (334-7 267-70) mentions ten girls in all who provide him with food during his austerities. Divyāvadāna (392) mentions two, Nandā and Nandabalā.

Māra, lord of the world of passion, is determined to prevent this fulfilment, and attacks Gotama with all the strength at his command. His army extends twelve leagues to the front, right, and left of him, to the end of the Cakkavāḷa behind him, and nine leagues into the sky above him. Māra himself carries numerous weapons and rides the elephant Girimekhala, one hundred and fifty leagues in height. At the sight of him all the divinities gathered at the Bodhi-tree to do honour to Gotama – the great Brahma, Sakka, the Nāga-king Mahā Kāḷa – disappear in a flash, and Gotama is left alone with the ten pāramī, long practised by him, as his sole protection. All Māra’s attempts to frighten him by means of storms and terrifying apparitions fail, and, in the end, Māra hurls at him the Cakkāvudha. It remains as a canopy poised over Gotama. The very earth bears witness to Gotama’s fitness to be the Awakened One, and Girimekhala kneels before him. Māra is vanquished and flees headlong with his vast army. The various divinities who had fled at the approach of Māra now return to Gotama and exult in his triumph.

The whole story of the contest with Māra is, obviously, a mythological development. It is significant that in the Majjhima passages referred to earlier there is no mention of Māra, of a temptation, or even of a Bodhi-tree; but see DN.ii.4 and Thomas (op.cit., n.1). According to the Kāliṅgabodhijātaka, which, very probably, embodies an old tradition, the Bodhi-tree was worshipped even in the Buddha’s life-time. The Māra legend is, however, to be found in the Canonical Padhānasutta of the Suttanipāta. This perhaps contains the first suggestion of the legend. For a discussion see Māra.

Gotama spends that night in deep meditation. In the first watch he gains remembrance of his former existences; in the middle watch he attains the divine eye (dibbacakkhu); in the last watch he revolves in his mind the Chain of Causation (paṭiccasamuppāda). As he masters this, the earth trembles and, with the dawn, comes Awakening. He is now the supreme Buddha, and he breaks forth into a paean of joy (udāna).

There is great doubt as to which were these Udāna verses. The Nidānakathā and the Commentaries generally quote two verses (153, 154) included in the Dhammapada collection (anekajāti Saṁsāraṁ, etc.). The Vinaya (i.2) quotes three different verses (as does also Dhs­a.17), and says that one verse was repeated at the end of each watch, all the watches being occupied with meditation on the paṭiccasamuppāda. Mahā Vastu (Mvu.ii.286) gives a completely different Udāna, and in another place (ii.416) mentions a different verse as the first Udāna. The Tibetan Vinaya is, again, quite different (Rockhill, p.33). For a discussion see Thomas: Life and Legend of the Buddha, 75ff.

For the first week the Buddha remains under the Bodhi-tree, meditating on the paṭiccasamuppāda; the second week he spends at the Ajapālanigrodha, where the “Huhuṅka” Brahmin accosts him (Māra now comes again and asks the Buddha to die at once; DN.ii.112) and where Māra’s daughters, Taṇhā, Aratī and Rāgā, appear before the Buddha and make a last attempt to shake his resolution (Ja.i.78; SN.i.124; Lal.490 (378); the third week he spends under the hood of the Nāga-king Mucalinda (Vin.i.3); the fourth week is spent in meditation under the Rājāyatana tree; at the end of this period takes place the conversion of Tapussa and Bhallika. They take refuge in the Buddha and the Dhamma, though the Buddha does not give them any instruction. This is the Vinaya account (Vin.i.1ff); but the Jātaka (Ja.i.77ff), extends this period to seven weeks, the additional weeks being inserted between the first and second. The Buddha spends one week each at the Animisacetiya, the Ratanacaṅkama and the Ratanaghara, and this last is where he thinks out the Abhidhammapiṭaka.

Doubts now assail the Buddha as to whether he shall proclaim to the world his doctrine, so recondite, so hard to understand. The Brahma Sahampati (according to Ja.i.81, with the gods of the thousand worlds, including Sakka, Suyāma, Santusita, Sunimmita, Vasavatti, etc.) appears before him and assures him there are many prepared to listen to him and to profit by his teaching, and so entreats him to teach the Dhamma. The Buddha accedes to his request and, after consideration, decides to teach the Dhamma first to the Pañcavaggiyas at Isipatana. On the way to Benares he meets the Ājīvaka Upaka and tells him that he (the Buddha) is a Jina. On his arrival at Isipatana the Pañcavaggiyas are, at first, reluctant to acknowledge his claim to be the Tathāgata, but they let themselves be won over and, on the full-moon day of Āsāḷha, the Buddha preaches to them the sermon which came to be known as the Dhammacakkappavattanasutta (Vin.i.4ff; MN.i.118ff; cp. DN.ii.36ff. Regarding the claim of this Sutta to be the Buddha’s first sermon, see Thomas: Life and Legend of the Buddha, p.86; see also Pañcavaggiyā). At the end of the sermon Koṇḍañña becomes a Sotāpanna and they all become monks.

This sermon is followed five days later by the Anattalakkhaṇasutta, at the conclusion of which all five become Arahants. The following day the Buddha meets Yasa, whom he converts. Yasa’s father, who comes seeking him, is the first to take the threefold formula of Refuge.

Yasa becomes an Arahant and is ordained. The Buddha accepts a meal at his house, and Yasa’s mother and one of his former wives are the first two lay-women to become the Buddha’s disciples. Then four friends of Yasa and, afterwards, fifty more, enter the Saṅgha and become Arahants. There are now sixty Arahants besides the Buddha, and they are sent in different directions to preach the Dhamma. They return with many candidates for admission to the Saṅgha, and the Buddha, who up till now had ordained men with the “ehi bhikkhu” formula, now allows the monks themselves to perform the ceremony of ordination (Vin.i.15ff; Ja.i.81f).

After spending the rainy season at Benares, the Buddha returns to Senānīgāma in Uruvela, on the way converting and ordaining the thirty Bhaddavaggiyā (about this time Māra twice tries to tempt the Buddha, once after he had sent the disciples out to preach and once after the Retreat, SN.i.105, 111; Vin.i.21, 22).

At Uruvela, after a long and protracted exercise of magical powers, consisting in all of three thousand five hundred miracles, the Buddha wins over the three Kassapa brothers, the Tebhātikajaṭilā, with their thousand followers, and ordains them. They become Arahants after listening to the Ādittapariyāyasutta preached at Gayāsīsa; with these followers he visits Rājagaha, where King Seniya Bimbisāra comes to see him at the Laṭṭhivanuyyāna. The following day the Buddha and the monks visit the palace, preceded by Sakka disguised as a youth and singing the praises of the Buddha. After the meal, the king gifts Veḷuvana to the Buddha and the Saṅgha. The Buddha stays for two months at Rājagaha (Bv­a.4), and it is during this time that Sāriputta and Moggallāna join the Saṅgha, through the instrumentality of Assaji (Vin.i.23ff). It was probably during this year, at the beginning of the rainy season, that the Buddha visited Vesālī at the request of the Licchavīs, conveyed through Mahāli. The city was suffering from pestilence and famine. The Buddha went, preached the Ratanasutta and dispelled all dangers (Dhp­a.iii.436ff).

The number of converts now rapidly increases and the people of Magadha, alarmed by the prospect of childlessness, widowhood, etc., blame the Buddha and his monks. The Buddha, however, refutes their charges (Vin.i.42f).

The account of the first twenty years of the Buddha’s ministry is summarised from various sources, chiefly from Thomas’s admirable account in his Life and Legend of the Buddha (pp.97ff). The necessary references are to be found under the names mentioned.

On the full-moon day of Phagguna (February-March) the Buddha, accompanied by twenty thousand monks, sets out for Kapilavatthu at the express request of his father, conveyed through Kāḷudāyī (this visit is not mentioned in the Canon; but see Thag.527-36; AN­a.i.107, 167; Ja.i.87; Dhp­a.i.96f; Thag­a.i.997ff).

By slow stages he arrives at the city, where he stays at the Nigrodhārāma, and, in order to convince his proud kinsmen of his power, performs the Yamakapāṭihāriya and then relates the Vessantarajātaka. The next day, receiving no invitation to a meal, the Buddha begs in the streets of the city; this deeply grieves Suddhodana, but later, learning that it is the custom of all Buddhas, he becomes a Sotāpanna and conducts the Buddha and his monks to a meal at the palace. There all the women of the palace, excepting only Rāhulamātā, come and do reverence to the Buddha. Mahā Pajāpatī becomes a Sotāpanna and Suddhodana a sakadāgāmi. The Buddha visits Rāhulamātā in her own apartments and utters her praises in the Candakinnarajātaka. The following day the Buddha persuades his half-brother, Nanda, to come to the monastery, where he ordains him and, on the seventh day, he does the same with Rāhula. This is too great a blow for Suddhodana, and at his request the Buddha rules that no person shall be ordained without the consent of his parents. The next day the Buddha preaches to Suddhodana, who becomes an Anāgāmī. During the Buddha’s visit to Kapilavatthu, eighty thousand Sākiyans join the Saṅgha, one from each family. With these he returns to Rājagaha, stopping on the way at Anupiya, where Anuruddha, Bhaddiya, Ānanda, Bhagu, Kimbila and Devadatta, together with their barber, Upāli, visit him and seek ordination.

On his return to Rājagaha the Buddha resides in the Sītavana (Ja.i.92, the story is also told in the Vinaya ii.154, but no date is indicated). There Sudatta, later known as Anāthapiṇḍika, visits him, is converted, and invites him to Sāvatthī. The Buddha accepts the invitation and journeys through Vesālī to Sāvatthī, there to pass the rainy season (Vin.ii.158; but see Bv­a.3, where the Buddha is mentioned as having spent the vassa in Rājagaha). Anāthapiṇḍika gifts Jetavana, provided with every necessity, for the residence of the Buddha and his monks. Probably to this period belongs the conversion of Migāra, father-in-law of Visākhā, and the construction, by Visākhā, of the Pubbārāma at Sāvatthī. The vassa of the fourth year the Buddha spends at Veḷuvana, where he converts Uggasena (Dhp­a.iv.59f). In the fifth year Suddhodana dies, having realised Arahant-ship, and the Buddha flies through the air, from the Kūṭāgārasālā in Vesālī where he was staying, to preach to his father on his death-bed. According to one account it is at this time that the quarrel breaks out between the Sākiyans and the Koḷiyans regarding the irrigation of the river Rohiṇī (AN­a.i.186; Snp­a.i.357; Thīg­a.141; details of the quarrel are given in Ja.v.412ff). The Buddha persuades them to make peace, and takes up his abode in the Nigrodhārāma. Mahā Pajāpatī Gotamī, with other Sākiyan women, visits him there and asks that women may be allowed to join the Saṅgha. Three times the request is made, three times refused, the Buddha then returning to Vesālī. The women cut off their hair, don yellow robes and follow him thither. Ānanda intercedes on their behalf and their request is granted (Vin.ii.253ff; AN.iv.274f.; for details see Mahā Pajāpatī).

In the sixth year the Buddha again performs the Yamakapāṭihāriya, this time at the foot of the Gaṇḍamba tree in Sāvatthī. Prior to this, the Buddha had forbidden any display of magic powers, but makes an exception in his own case (Dhp­a.iii.199f.; Ja.iv.265, etc.).

He spends the vassa at Maṅkulapabbata. After the performance of the miracle he follows the custom of all Buddhas and ascends to Tāvatiṁsa in three strides to preach the Abhidhamma to his mother who is born there as a Deva, and there he keeps the seventh vassa. The multitude, gathered at Sāvatthī at the Yamakapāṭihāriya, refuse to go away until they have seen him. For three months, therefore, Moggallāna expounds to them the Dhamma, while Cūḷa Anāthapiṇḍika provides them with food. During the preaching of the Abhidhamma, Sāriputta visits the Buddha daily and learns from him all that has been recited the previous day. At the end of the vassa, the Buddha descends a jewelled staircase and comes to earth at Saṅkassa, thirty leagues from Sāvatthī (for details see Devorohaṇa). It was about this time, when the Buddha’s fame was at its height, that the notorious Ciñcāmāṇavikā was persuaded by members of some hostile sect to bring a vile accusation against the Buddha. A similar story, told in connection with a paribbājikā named Sundarī, probably refers to a later date.

The eighth year the Buddha spends in the country of the Bhaggas and there, while residing in Bhesakalāvana near Suṁsumāragiri, he meets Nakulapitā and his wife, who had been his parents in five hundred former births (AN.A.i.217).

The same is told of another old couple in Sāketa. See the Sāketajātaka. The Buddha evidently stayed again at Suṁsumāragiri many years later. It was during his second visit that Bodhirājakumāra (q.v.) invited him to a meal at his new palace in order that the Buddha might consecrate the building by his presence.

In the ninth year the Buddha is at Kosambī. While on a visit to the Kuru country he is offered in marriage Māgandiyā, the beautiful daughter of the Brahmin Māgandiya. The refusal of the offer, accompanied by insulting remarks about physical beauty, arouses the enmity of Māgandiyā who, thenceforward, cherishes hatred against the Buddha. Snp., pp.163ff; Snp­a.ii.542ff; Dhp­a.i.199ff. Thomas (op.cit., 109) assigns the Māgandiyā incident to the ninth year. I am not sure if this is correct, for the Commentaries say the Buddha was then living at Sāvatthī.

In the tenth year there arises among the monks at Kosambī a schism which threatens the very existence of the Saṅgha. The Buddha, failing in his attempts to reconcile the disputants, retires in disgust to the Pārileyyaka forest, passing on his way through Bālakaloṇakāragāma and Pācīnavaṁsadāya. In the forest he is protected and waited upon by a friendly elephant who has left the herd. The Buddha spends the rainy season there and returns to Sāvatthī. By this time the Kosambī monks have recovered their senses and ask the Buddha’s pardon. This is granted and the dispute settled. (Vin.i.337ff; Ja.iii.486f; Dhp­a.i.44ff; but see Ud.iv.5; s.v. Pārileyyaka).

In the eleventh year the Buddha resides at the Brahmin village of Ekanāḷā and converts Kasi Bhāradvāja (Snp., p.12f.; SN.i.172f). The twelfth year he spends at Verañjā, keeping the vassa there at the request of the Brahmin Verañja. But Verañja forgets his obligations; there is a famine, and five hundred horse-merchants supply the monks with food. Moggallāna’s offer to obtain food by means of magic power is discouraged (Vin.iii.1ff; Ja.iii.494f; Dhp­a.ii.153). The thirteenth Retreat is kept at Cālikapabbata, where Meghiya is the Buddha’s personal attendant (AN.iv.354; Ud.iv.1). The fourteenth year is spent at Sāvatthī, and there Rāhula receives the upasampadā ordination.

In the fifteenth year the Buddha revisits Kapilavatthu, and there his father-in-law, Suppabuddha, in a drunken fit, refuses to let the Buddha pass through the streets. Seven days later he is swallowed up by the earth at the foot of his palace (Dhp­a.iii.44).

The chief event of the sixteenth year, which the Buddha spent at Āḷavī, is the conversion of the Yakkha Āḷavaka. In the seventeenth year the Buddha is back at Sāvatthī, but he visits Āḷavī again out of compassion for a poor farmer who becomes a Sotāpanna after hearing him preach (Dhp­a.iii.262ff). He spends the rainy season at Rājagaha. In the next year he again comes to Āḷavī from Jetavana for the sake of a poor weaver’s daughter. She had heard him preach, three years earlier, on the desirability of meditating upon death. She alone gave heed to his admonition and, when the Buddha knows of her imminent death, he journeys thirty leagues to preach to her and establish her in the Sotāpattiphala (Dhp­a.iii.170ff).

The Retreat of this year and also that of the nineteenth are spent at Cālikapabbata. In the twentieth year takes place the miraculous conversion of the robber Aṅgulimāla. He becomes an Arahant and dies shortly after. It is in the same year that Ānanda is appointed permanent attendant on the Buddha, a position which he holds to the end of the Buddha’s life, twenty-five years later (for details see Ānanda). The twentieth Retreat is spent at Rājagaha.

With our present knowledge it is impossible to evolve any kind of chronology for the remaining twenty-five years of the Buddha’s life. The Commentaries state that they were spent at Sāvatthī in the monasteries of Jetavana and Pubbārāma (e.g., Bv­a.3; Snp­a. p.336f, says that when the Buddha was at Sāvatthī, he spent the day at the Migāramātupāsāda in the Pubbārāma, and the night at Jetavana or vice versa).

This, probably, only implies that the Retreats were kept there and that they were made the headquarters of the Buddha. From there, during the dry season, he went every year on tour in various districts. Among the places visited by him during these tours are the following:

Aggāḷavacetiya, Anotatta, Andhakavinda, Ambapālivana, Ambalaṭṭhikā, Ambasaṇḍā, Assapura, Āpaṇa, Icchānaṅgala, Ukkaṭṭhā (Subhagavana), Ukkācelā, Ugganagara, Ujuññā (Kaṇṇakatthaka deer-park), Uttara in Koḷiya, Uttarakā, Uttarakuru, Uruvelakappa, Uḷumpa, Ekanāḷā, Opasāda, Kakkarapatta, Kajaṅgalā (Mukheluvana), Kammāsadhamma, Kalandakanivāpa (near Benares), Kimbilā, Kīṭāgiri, Kuṇḍadhānavana (near Kuṇḍakoli), Kesaputta, Koṭigāma, Kosambī (Ghositārāma and Badarikārāma), Khānumata, Khomadussa, Gosiṅgasālavana, Candalakappa, Campā (Gaggarā), Cātuma, Cetiyagiri in Vesālī, Jīvakambavana (in Rājagaha), Tapodārāma, Tindukkhānu (paribbājakārāma), Todeyya, Thullakoṭṭhita, Dakkhiṇāgiri, Daṇḍakappa, Devadaha, Desaka in the Sumbha country, Nagaraka, Nagaravinda, Nādikā (Giñjakāvasatha), Nālandā (Pāvārika mango-grove), Nāḷakapāna (Palāsavana), Paṅkadhā, Pañcasālā, Pāṭikārāma, Beluva, the Brahma world, Bhaddavatī, Bhaddiya (Jātiyāvana), Bhaganagara (Ānandacetiya), Maṇinālakacetiya, Manasākaṭa, Mātulā, Mithilā (Makhādeva mango-grove), Medatalumpa, Moranivāpa, Rammaka’s hermitage, Latthivana, Videha, Vedhañña­ambavana, Venāgapura, Verañjā, Veḷudvāra, Vesālī (also various shrines there, Udenacetiya, Gotamacetiya, Cāpalacetiya, Bahuputtakacetiya, Sattambacetiya, Sārandadacetiya, Sakkara, Sajjanela, Saḷalāgāraka in Sāvatthī, Sāketa (Añjanavana), Sāmagāma, Sālavatikā, Sālā, Siṁsapāvana, Silāvatī, Sītavana, Sūkarakhatalena, Setavyā, Hatthigāma, Halidavassana and the region of the Himālaya.

There is a more or less a continuous account of the last year of the Buddha’s life. This is contained in three Suttas: the Mahā Parinibbāna, the Mahā Sudassana and the Janavasabha. These are not separate discourses but are intimately connected with each other. The only event prior to the incidents recounted in these Suttas, which can be fixed with any certainty, is the death of the Buddha’s pious patron and supporter, Bimbisāra, which took place eight years before the Buddha’s Parinibbāna (Mhv.ii.32). It was at this time that Devadatta tried to obtain for himself a post of supremacy in the Saṅgha, and, failing in this effort, became the open enemy of the Buddha. Devadatta’s desire to deprive the Buddha of the leadership of the Saṅgha seems to have been conceived by him, according to the Vinaya account (Vin.ii.184), almost immediately after he joined the Saṅgha, and the Buddha was warned of this by the Devaputta Kakudha. This account lends point to the statement contained especially in the Northern books, that even in their lay life Devadatta had always been Gotama’s rival.

Enlisting the support of Ajātasattu, he tried in many ways to kill the Buddha. Royal archers were bribed to shoot the Buddha, but they were won over by his personality and confessed their intentions. Then Devadatta hurled a great rock down Gijjhakūṭa on to the Buddha as he was walking in the shade of the hill; the hurtling rock was stopped by two peaks, but splinters struck the Buddha’s foot and caused blood to flow; he suffered great pain and had to be taken to the Maddakucchi garden, where his injuries were dressed by the physician Jīvaka (SN.i.27). The monks wished to provide a guard, but the Buddha reminded them that no man had the power to deprive a Tathāgata of his life.

Devadatta next bribed the royal elephant keepers to let loose a fierce elephant, Nālāgiri, intoxicated with toddy, on the road along which the Buddha would go, begging for alms. The Buddha was warned of this but disregarded the warning, and when the elephant appeared, Ānanda, against the strict orders of the Buddha, threw himself in its path, and only by an exercise of iddhi-power, including the folding up of the earth, could the Buddha come ahead of him. As the elephant approached, the Buddha addressed it, pervading it with his boundless love, until it became quite gentle (this incident, with great wealth of detail, is related in several places – e.g., in Ja.v.333ff).

These attempts to encompass the Buddha’s death having failed, Devadatta, with three others, decides to create a schism in the Saṅgha and asks the Buddha that five rules should be laid down, whereby the monks would be compelled to lead a far more austere life than hitherto. When this request is refused, Devadatta persuades five hundred recently ordained monks to leave Vesālī with him and take up their residence at Gayāsīsa, where he would set up an organisation similar to that of the Buddha. But, at the Buddha’s request, Sāriputta and Moggallāna visit the renegade monks; Sāriputta preaches to them and they are persuaded to return. When Devadatta discovers this, he vomits hot blood and lies ill for nine months. When his end approaches, he wishes to see the Buddha, but he dies on the way to Jetavana – whither he is being conveyed in a litter – and is born in Avīci.

From Gijjhakūṭa, near Rājagaha, the Buddha starts on his last journey. Just before his departure he is visited by Vassakāra, and the talk is of the Vajjians; the Buddha preaches to Vassakāra and the monks on the conditions that lead to prosperity. The Buddha proceeds with a large concourse of monks to Ambalaṭṭhikā and thence to Nālandā, where Sāriputta utters his lion-roar (sīhanāda) regarding his faith in the Buddha. The Buddha then goes to Pāṭaligāma, where he talks to the villagers on the evil consequences of immorality and the advantages of morality. He utters a prophecy regarding the future greatness of Pāṭaliputta and then, leaving by the Gotamadvāra, he crosses the river Ganges at Gotamatittha. He proceeds to Koṭigāma and thence to Ñātika, where he gives to Ānanda the formula of the Dhammādāsa, whereby the rebirth of disciples could be ascertained. From Ñātika he goes to Vesālī, staying in the park of the courtesan Ambapālī. The following day he accepts a meal from Ambapālī, refusing a similar offer from the Licchavīs; Ambapālī makes a gift of her park to the Buddha and his monks. The Buddha journeys on to Beluva, where he spends the rainy season, his monks remaining in Vesālī. At Beluva he falls dangerously ill but, with great determination, fights against his sickness. He tells Ānanda that his mission is finished, that when he is dead the Saṅgha must maintain itself, taking the Dhamma alone as its refuge, and he concludes by propounding the four subjects of mindfulness (DN.ii.100). The next day he begs in Vesālī and, with Ānanda, visits the Cāpālacetiya. There he gives to Ānanda the opportunity of asking him to live until the end of the kappa, but Ānanda fails to take the hint. Soon afterwards Māra visits the Buddha and obtains the assurance that the Buddha’s Nibbāna will take place in three months. There is an earthquake, and, in answer to Ānanda’s questions, the Buddha explains to him the eight causes of earthquakes. This is followed by lists of the eight assemblies, the eight stages of mastery and the eight stages of release. The Buddha then repeats to Ānanda his conversation with Māra, and Ānanda now makes his request to the Buddha to prolong his life, but is told that it is now too late; several opportunities he has had, of which he has failed to avail himself. The monks are assembled in Vesālī, in the Service Hall, and the Buddha exhorts them to practise the doctrines he has taught, in order that the religious life may last long. He then announces his impending death.

According to the Commentaries (e.g., DN­a.ii.549), after the rainy season spent at Beluva, the Buddha goes back to Jetavana, where he is visited by Sāriputta, who is preparing for his own Parinibbāna at Nālakagāma. From Jetavana the Buddha went to Rājagaha, where Mahā Moggallāna died. Thence he proceeded to Ukkācelā, where he spoke in praise of the two chief disciples. From Ukkācelā he proceeded to Vesālī and thence to Bhaṇḍagāma. Rāhula, too, predeceased the Buddha (DN­a.ii.549).

The next day, returning from Vesālī, he looks round at the city for the last time and goes on to Bhaṇḍagāma; there he preaches on the four things the comprehension of which destroys rebirth – noble conduct, earnestness in meditation, wisdom and freedom.

He then passes through the villages of Hatthigāma, Ambagāma and Jambugāma, and stays at Bhoganagara at the Ānandacetiya. There he addresses the monks on the Four Great Authorities (Mahā Padesā), by reference to which the true doctrine may be determined (Cf. AN.ii.167ff). From Bhoganagara the Buddha goes to Pāvā and stays in the mango-grove of Cunda, the smith. Cunda serves him with a meal which includes sūkaramaddava. (There is much dispute concerning this word. See Thomas: Life and Legend of the Buddha, 149, n.3). The Buddha alone partakes of the sūkaramaddava, the remains being buried. This is the Buddha’s last meal; sharp sickness arises in him, with flow of blood and violent, deadly pains, but the Buddha controls them and sets out for Kusinārā. On the way he has to sit down at the foot of a tree. Ānanda fetches him water to drink from the stream Kakuṭṭhā, over which five hundred carts had just passed; but, through the power of the Buddha, the water is quite clear. Here the Buddha is visited by Pukkusa, the Mallan, who is converted and presents the Buddha with a pair of gold-coloured robes. The Buddha puts them on and Ānanda notices the marvellous brightness and clearness of the Buddha’s body. The Buddha tells him that the body of a Buddha takes on this hue on the night before his Awakening and on the night of his passing away, and that he will die that night at Kusinārā. He goes to the Kakuṭṭhā, bathes and drinks there and rests in a mango-grove. There he instructs Ānanda that steps must be taken to dispel any remorse that Cunda may feel regarding the meal he gave to the Buddha.

From Kakuṭṭhā the Buddha crosses the Hiraññavatī to the Upavattana sāla-grove in Kusinārā. There Ānanda prepares for him a bed with the head to the north. All the trees break forth into blossom and flowers cover the body of the Buddha. Divine mandārava-flowers and sandalwood powder fall from the sky, and divine music and singing sound through the air. But the Buddha says that the greater honour to him would be to follow his teachings.

The gods of the ten thousand world systems assemble to pay their last homage to the Buddha, and Upavāṇa, who stands fanning him, is asked to move away as he obstructs their view.

Ānanda asks for instruction on several points, including how the funeral rites should be performed; he then goes out and abandons himself to a fit of weeping; the Buddha sends for him, consoles him and speaks his praises. Ānanda tries to persuade the Buddha not to die in a mud-and-wattle village, such as is Kusinārā, but the Buddha tells him how it was once the mighty Mahā Sammata, capital of Mahā Sudassana.

The Mallas of Kusināra are informed that the Buddha will pass away in the third watch of the night, and they come with their families to pay their respects. The ascetic Subhadda comes to see the Buddha and is refused admission by Ānanda, but the Buddha, overhearing, calls him in and converts him. Several minor rules of discipline are delivered, including the order for the excommunication of Channa. The Buddha finally asks the assembled monks to speak out any doubts they may have. All are silent and Ānanda expresses his astonishment, but the Buddha tells him it is natural that the monks should have no doubts. Then, addressing the monks for the last time, he admonishes them in these words: “Decay is inherent in all component things; work out your salvation with diligence.” These were the Buddha’s last words. Passing backwards and forwards through various stages of jhāna, he attains Parinibbāna. There is a great earthquake and terrifying thunder, and the Brahma Sahampati, Sakka, king of the gods, Anuruddha and Ānanda utter stanzas, each proclaiming the feeling uppermost in his mind. It is the full-moon day of the month of Visākha and the Buddha is in his eightieth year.

The next day Ānanda informs the Mallas of Kusinārā of the Buddha’s death, and for seven days they hold a great celebration. On the seventh day, following Ānanda’s instructions, they prepare the body for cremation, taking it in procession by the eastern gate to the Makuṭabandhana shrine, thus altering their proposed route, in order to satisfy the wishes of the gods, as communicated to them by Anuruddha. The whole town is covered knee-deep with mandārava-flowers, which fall from the sky. When, however, four of the chief Mallas try to light the pyre, their attempt is unsuccessful and they must wait until Mahā Kassapa, coming with a company of five hundred monks, has saluted it. The Commentaries (e.g., DN­a.ii.603) add that Mahā Kassapa greatly desired that the Buddha’s feet should rest on his head when he worshipped the pyre. The wish was granted: the feet appeared through the pyre, and when Kassapa had worshipped them, the pyre closed together. The pyre burns completely away, leaving no cinders nor soot. Streams of water fall from the sky to extinguish it and the Mallas pour on it scented water. They then place a fence of spears around it and continue their celebrations for seven days. At the end of that period there appear several claimants for the Buddha’s relics: Ajātasattu, the Licchavīs of Vesālī, the Sākiyans of Kapilavatthu, the Bulis of Allakappa, the Koḷiyas of Rāmagāma, a Brahmin of Veṭhadīpa and the Mallas of Pāvā. But the Mallas of Kusinārā refusing to share the relics with the others, there is danger of war. Then the Brahmin Doṇa counsels concord and divides the relics into eight equal parts for the eight claimants. Doṇa takes for himself the measuring vessel and the Moriyas of Pipphalivana, who arrive late, carry off the ashes. Thūpas were built over these remains and feasts held in honour of the Buddha.

The concluding passage of the Mahā Parinibbānasutta (DN.ii.167) states that the Buddha’s relics were eight measures, seven of which were honoured in Jambudīpa and the remaining one in the Nāga realm in Rāmagāma. One tooth was in heaven, one in Gandhāra, a third in Kāliṅga (later taken to Ceylon), and a fourth in the Nāga world. Ajātasattu’s share was deposited in a Thūpa and forgotten. It was later discovered by Asoka (with the help of Sakka) and distributed among his eighty-four thousand monasteries. Asoka also recorded the finding of all the other relics except those deposited in Rāmagāma. These were later deposited in the Mahā Cetiya at Anurādhapura (Mhv.xxxi.17ff). Other relics are also mentioned, such as the Buddha’s collar-bone, his alms bowl, etc. (Mhv.xvii.9ff; Mhv.i.37, etc.).

It is said (e.g., DN­a.iii.899) that just before the Buddha’s Sāsana disappears completely from the world, all the relics will gather together at the Mahā Cetiya, and travelling from there to Nāgadīpa and the Ratanacetiya, assemble at the Mahā Bodhi, together with the relics from other parts. There they will reform the Buddha’s golden hued body, emitting the six-coloured aura. The body will then catch fire and completely disappear, amid the lamentations of the ten thousand world-systems.

The Burmese claim that the Buddha visited their land and went to the Lohitacandanavihāra, presented by the brothers Mahā Puṇṇa and Cūḷa Puṇṇa of Vānijagāma (Ind.An.xxii., and Sās.36f.).

The Ceylon Chronicles record that the Buddha visited the Island on three separate occasions (Mhv.i.12ff; Dpv.i.45ff; ii.1ff etc.).

The first was while he was dwelling at Uruvelā, awaiting the moment for the conversion of the Tebhātikajaṭilas, in the ninth month after the Awakening, on the full-moon day of Phussa (Dec–Jan). He came to the Mahā Nāga garden, and stood in the air over an assembly of Yakkhas then being held. He struck terror into their hearts and, at his suggestion, they left Ceylon and went in a body to Giridīpa, hard by. The Buddha gave a handful of his hair to the Deva Mahā Sumana of the Sumanakūṭa mountain, who built a Thūpa which was later enlarged into the Mahiyaṅgaṇa Thūpa. The Buddha again visited Ceylon in the fifth year, on the new-moon day of Citta (March-April), to check an imminent battle between two Nāga chiefs in Nāgadīpa; the combatants were Mahodara and Cūḷodara, uncle and nephew, and the object of the quarrel was a gem-set throne. The Buddha appeared before them, accompanied by the Deva Samiddhi Sumana, carrying a Rājāyatana tree from Jetavana, settled their quarrel and received, as a gift, the throne, the cause of the trouble. He left behind him both the throne and the Rājāyatana tree for the worship of the Nāgas and accepted an invitation from the Nāga king, Maṇi­akkhika of Kalyāṇi, to pay another visit to Ceylon. Three years later Maṇi­akkhika repeated the invitation and the Buddha came to Kalyāṇi with five hundred monks, on the second day of Vesākha. Having preached to the Nāgas, he went to Sumanakūṭa, on the summit of which mountain he left the imprint of his foot (legend has it that other footprints were left by the Buddha, on the bank of the river Nammadā, on the Saccabaddha mountain and in Yoṇakapura). He then stayed at Dīghavāpī and from there visited Mahā Meghavana, where he consecrated various spots by virtue of his presence, and proceeded to the site of the later Silācetiya. From there he returned to Jetavana.

Very little information as to the personality of the Buddha is available. We are told that he was golden-hued (e.g., Vin-a.iii.689), that his voice had the eight qualities of the Brahmassāra (e.g., DN.ii.211; MN.ii.166f. It is said that while an ordinary person spoke one word, Ānanda could speak eight; but the Buddha could speak sixteen to the eight of Ānanda, MN­a.i.283) – fluency, intelligibility, sweetness, audibility, continuity, distinctness, depth and resonance – that he had a fascinating personality – he was described by his opponents as seductive (e.g., MN.i.269, 275) – that he was handsome, perfect alike in complexion and stature and noble of presence (e.g., MN.ii.167). He had a unique reputation as a teacher and trainer of the human heart. He was endowed with the thirty-two marks of the Mahā Purisa (for details of these, see Buddha). There is a legend that Mahā Kassapa, though slightly shorter, resembled the Buddha in appearance.

Attempts made, however, to measure the Buddha always failed; two such attempts are generally mentioned – one by a Brahmin of Rājagaha and the other by Rāhu, chief of the Asuras (DN­a.i.284f). The Buddha had the physical strength of many millions of elephants (e.g., Vibh­a.397), but his strength quickly ebbed away after his last meal and he had to stop at twenty-five places while travelling three gāvutas from Pāvā to Kusināra (DN­a.ii.573).

Mention is often made of the Buddha’s love of quiet and peace, and even the heretics respected his wishes in this matter, silencing their discussions at his approach (e.g., DN.i.178f; iii.39; even his disciples had a similar reputation, e.g., DN.iii.37). Examples are given of the Buddha refusing to allow noisy monks to live near him. (e.g., MN.i.456; see also MN.ii.122, where a monk was jogged by his neighbour because he coughed when the Buddha was speaking). He loved solitude and often spent long periods away from the haunts of men, allowing only one monk to bring him his meals, e.g., SN.v.12, 320; but this very love of solitude was sometimes brought against him. By intercourse with whom does he attain to lucidity in wisdom? they asked. His insight, they said, was ruined by his habit of seclusion (DN.iii.38).

According to one account (AN.i.181), it was his practice to spend part of the day in seclusion, but he was always ready to see anyone who urgently desired his spiritual counsel (e.g., AN.iv.438).

In the Mahā Govindasutta (DN.ii.222f) Sakka is represented as having uttered “eight true praises” of the Buddha. Perhaps the most predominant characteristics of the Buddha were his boundless love and his eagerness to help all who sought him. His fondness for children is seen in such stories as those of the two Sopākas, of Kumāra Kassapa, of Cūḷa Panthaka and Dabba Mallaputta and also of the novices Paṇḍita and Sukha. His kindness to animals appears, for instance, in the introductory story of the Macchajātaka and his interference on behalf of Udena’s aged elephant, Bhaddavatikā (q.v.). The Buddha was extremely devoted to his disciples and encouraged them in every way in their difficult life. The Theragāthā and the Therīgāthā are full of stories indicating that he watched, with great care, the spiritual growth and development of his disciples, understood their problems and was ready with timely interference to help them to win their aims. Such incidents as those mentioned in the Bhaddālisutta (MN.i.445), the introduction to the Titthajātaka and the Kañcakkhandhajātaka, seem to indicate that he took a personal and abiding interest in all who came under him. It was his unvarying custom to greet with a smile all those who visited him, inquiring after their welfare and thus putting them at their ease (Vin.i.313). When anyone sought permission to question him, he made no conditions as to the topic of discussion. This is called sabbaññupavāraṇa, e.g., MN.i.230. When the Buddha himself asked a question of any of his interrogators, they could not remain silent, but were bound to answer; a Yakkha called Vajirapāṇī was always present to frighten those who did not wish to do so (e.g., MN.i.231).

The Buddha was not over­anxious to get converts, and when his visitors declared themselves his followers he would urge them to take time to consider the matter – e.g., in the case of Acela Kassapa and Upāli gahapati.

When he was staying in a monastery, he paid daily visits to the sick ward to talk to the inmates and to comfort them (see, e.g., Kuṭāgārasālā). The charming story of Pūtigatatissa shows that he sometimes attended on the sick himself, thus setting an example to his followers. In return for his devotion, his disciples adored him, but even among those who immediately surrounded him there were a few who refused to obey him implicitly – e.g., Lāḷudāyī, the companions of Assaji and Punabbasuka, the Chabbaggiyas, the Sattarasavaggiyas and others, not to mention Devadatta and his associates.

The Buddha seems to have shown a special regard for Sāriputta, Ānanda and Mahā Kassapa among the monks, and for Anāthapiṇḍika, Mallikā, Visākhā, Bimbisāra and Pasenadi among the laity. He seems to have been secretly amused by the very human qualities of Pasenadi and by his failure to appreciate the real superiority of Mallikā, his wife.

The Buddha always declared that he was among the happy ones of this earth, that he was far happier, for instance, than Bimbisāra (e.g., MN.i.94), and he remained unmoved by opposition or abuse, e.g., in the case of the organised conspiracy of Māgandiyā (Dhp­a.iv.1f.).

The Milindapañha (p.134) mentions several illnesses of the Buddha: the injury to his foot has already been referred to; once when the humours of his body were disturbed Jīvaka administered a purge (Vin.i.279); on another occasion he suffered from some stomach trouble which was cured by hot water, or, according to some, by hot gruel (Vin.i.210f.; Thag.185). The Dhammapada Commentary (Dhp­a.iv.232; Thag­a.i.311f) mentions another disorder of the humours cured by hot water obtained from the Brahmin Devahita, through Upavāṇa. The Commentaries mention that he suffered, in his old age, from constant backache, owing to the severe austerities practised by him during the six years preceding his Awakening, and the unsuitable meals taken during that period were responsible for a dyspepsia which persisted throughout the rest of his life (SN­a.i.200), culminating in his last serious illness of dysentery. MN­a.i.465; DN­a.iii.974; see also DN.iii.209, when he was preaching to the Mallas of Pāvā.

The Apadāna (Ap.i.299f) contains a set of verses called Pubbakammapiloti; these verses mention certain acts done by the Buddha in the past, which resulted in his having to suffer in various ways in his last birth. He was once a drunkard named Munāli and he abused the Pacceka Buddha Surabhi. On another occasion he was a learned Brahmin, teacher of five hundred pupils. One day, seeing the Pacceka Buddha Isigaṇa, he spoke ill of him to his pupils, calling him “sensualist.” The result of this act was the calumny against him by Sundarikā in this life.

In another life he reviled a disciple of a Buddha, named Nanda; for this he suffered in hell for twelve thousand years and, in his last life, was disgraced by Ciñcā. Once, greedy for wealth, he killed his step-brothers, hurling them down a precipice; as a result, Devadatta attempted to kill him by hurling down a rock. Once, as a boy, while playing on the highway, he saw a Pacceka Buddha and threw a stone at him, and as a result, was shot at by Devadatta’s hired archers. In another life he was a mahout, and seeing a Pacceka Buddha on the road, drove his elephant against him; hence the attack by Nālāgiri. Once, as a king, he sentenced seventy persons to death, the reward for which he reaped when a splinter pierced his foot. Because once, as a fisherman’s son, he took delight in watching fish being caught, he suffered from a grievous headache when Viḍūḍabha slaughtered the Sākiyans. In the time of Phussa Buddha he asked the monks to eat barley instead of rice and, as a result, had to eat barley for three months at Verañja (according to the Dhammapada Commentary Dhp-a.iii.257, the Buddha actually had to starve one day at Pañcasālā, because none of the inhabitants were willing to give him alms.) Because he once killed a wrestler, he suffered from cramp in the back. Once, when a physician, he caused discomfort to a merchant by purging him, hence his last illness of dysentery. As Jotipāla, he spoke disparagingly of the Awakening of Kassapa Buddha, and in consequence had to spend six years following various paths before becoming the Buddha. He was one of the most short-lived Buddhas, but because of those six years his Sāsana will last longer (Vin-a.i.190f).

The Buddha was generally addressed by his own disciples as Bhagavā. He spoke of himself as Tathāgata, while non-Buddhists referred to him as Gotama or Mahā Samaṇa. Other names used are Mahā Muni, Sākyamuni, Jina, Sakka (e.g., Sn.vs.345) and Brahma (Sn.vs.91; Snp-a.ii.418), also Yakkha (q.v.).

The Aṅguttaranikāya (AN.i.23ff) gives a list of the Buddha’s most eminent disciples, both among members of the Saṅgha and among the laity. Each one in the list is mentioned as having possessed pre-eminence in some particular respect.

Among those who visited the Buddha for discussion or had interviews with him or received instruction and guidance direct from him, the following may be included in addition to those already mentioned (this list does not pretend to be complete; some of the names have already been mentioned in this monograph in various connections): Aṅkura, Aggidatta, Acela Kassapa, Ajātasattu, Ajita the Paribbājaka, Ajita the Licchavī general, Attadattha, Anitthigandhakumāra, Anurādha, Anuruddha, Annabhāra, Abhayarājakumāra, Abhayā, Abhiñjaka, Abhibhūta, Abhirūpanandā, Ambaṭṭha, the monk Ariṭṭha, Ariya the fisherman, Asama, Asibandhaputta, Assaji, Assalāyana, Ākoṭaka, Āmagandha, the Yakkhas Āḷavaka and Indaka, Ugga of Vesālī, Ugga the minister, Uggatasarīra, Uggaha, Ujjaya, Uṇṇābha, Uttara Devaputta, Uttara the Nāga king, Uttara, pupil of Pārasariya, Uttiya, Udaya and Udāyī the Brahmins, Uttara, pupil of Brahmāyu, Uttarā, daughter of Puṇṇa, Uttarā the aged nun, Upavāṇa, Upasāḷha, Upasena, Upāli gahapati, Ubbirī, Eraka, Esakārī, Kakudha, Kandaraka, Kapila the fisherman, Kappa, Kappaṭakura, Kalārakkhattiya, Kassapa the Deva, Kāṇa, Kāṇamātā, Kātiyāna, Kāpaṭhika, Kāmada, Kāraṇapāli, the Kālāmas, Kāḷigodhā, Kimbila, Kisā Gotami, Kukkuṭamitta the hunter, Kuṇḍadhāna, Kuṇḍaliya, Kulla, Kūṭadanta, Keniya the Jaṭila, Kevaḍḍha, Kesi the horse trainer, Kokanadā, the two daughters of Pajjuna, Kokālika, Khadiravaniya Revata, Khānu Koṇḍañña, Khema the Deva, Khemā, Gaṇaka Moggallāna, Gavampati, Guttā, Gotama Thera, Caṅkī, Candana, Candābha, Candimā (Candimasa), Citta Hatthisāriputta, Cunda, Cunda Samaṇuddesa, Cundī, Cūḷa Dhanuggaha, Cūḷa Subhaddā, Chattapāṇī, Janapadakalyāṇī Nandā, Janavasabha, Jantu, Jambuka, Jambukhādaka, Jāṇussoṇī, Jāliya, Jīvaka Komārabhacca, Jenta, Jotika gahapati, Tāyana, Tālapuṭa, Tikaṇṇa, Timbaruka, Tissa, cousin of the Buddha, Tissa, friend of Metteyya, Tissa of Roruva, Tudu Brahmā, Thullatissa, Daṇḍapāṇī, Dāmalī, Dāsaka, Dīgha the Deva, Dīghajānu, Dīghatapassī, Dīghanakha, Dīghalaṭṭhi, Dīghāvu, Dummukha, Doṇa, Dhammadinna, Dhammārāma, the Dhammika-upāsaka, Dhammika the Brahmin, Nanda Thera, Nanda the herdsman, Nandana, Nandiya Paribbājaka, Nandiya the Sākiyan, Nandivisāla, Nāgita, Nālakatāpasa, Nālijaṅgha, Nigamavāsitissa, Nigrodha, Niṅka, Nīta, Nhātakamunī, Paccanīkasāta, Pañcasikha, Pañcālacaṇḍa, Paṭācārā, Pasenadi, king of Kosala, Pahārāda the Asura, Pāṭaliya, Pārāpariya, Piṅgala Koccha, Piṅgiyānī, Pilindavaccha, Pilotika, Puṇṇa, Puṇṇa Koḷiyaputta, Puṇṇa Mantānīputta, Puṇṇā, Puṇṇiya, Pessa the elephant trainer, Pokkharasāti, Poṭṭhapāda, Poṭhila, Poṭaliya, Phagguna, Baka Brahmā, Bahuputtikā, Bāvarī and his sixteen disciples, Bāhiya Dārucīriya, Bāhuna, Biḷālapādaka, Belaṭṭhakāni, Bojjhā, Brahmāyu, Bhagu, Bhaggava, Bhadda, Bhaddā Kuṇḍakakesī, Bhaddāli, Bhaddiya the Licchavī, several Bhāradvājas (Akkosaka Bhāradvāja, Aggika Bhāradvāja, Asurinda Bhāradvāja, Ahiṁsaka Bhāradvāja, Kāsi Bhāradvāja, Jaṭā Bhāradvāja, Navakammika Bhāradvāja, Bilaṅgika Bhāradvāja, Suddhika Bhāradvāja, Sundarika Bhāradvāja), Bhāradvāja, husband of Dhanañjāni, Bhāradvāja, friend of Vāseṭṭha, Bhuñjati, Bhumiya, Bhesika the barber, Macchari Kosiya, Maṇibhadda, Maṇḍissa, Mahā Kappina, Mahā Kassapa, Mahā Koṭṭhita, Mahā Cunda, Mahā Dhana, Mahā Nāma, Mahā Moggallāna, Mahāli (Oṭṭhaddha), the two Māgandiyas – one the Brahmin and one the paribbājaka, Māgha, Māṇavagāmiya, Mānatthaddha, Mātuposaka, Māluṅkyaputta, Migajāla, Migasira, Meṇḍaka of Bhaddiya, Moliya Phagguna, Moliya Sīvaka, Yasoja, Raṭṭhapāla, Rādha, Rāhula, Rāsiya, Rūpānandā, Roja the Malla, Rohiṇī, Rohitassa, Lakuṇṭaka Bhaddiya, the goddess Lājā, Lomasakaṅgiya, Lohicca, Vakkali, Vaṅgīsa, Vajjiyamāhita, Vaḍḍha the Licchavī, Vaḍḍhamāna, Vappa, Varadhara, Vassakāra, Vāraṇa, Vāseṭṭha-upāsaka, Vāseṭṭha, friend of Bhāradvāja, Visākha Pañcālaputta, Visākhā, Vīrā, Vekhanasa, Veṇḍu, Vatambari, Sakuludāyi, Sakka, Saṅkicca, the two Saṅgāravas, Saṅgharakkhita (Bhāgineyya Saṅgharakkhita), Saccaka, Sajjha, Satullapa Devas, Sanaṅkumāra, Santati, Sandha, Sandhāna, Samiddhi, Sarabha, Sarabhaṅga, Sātāgira, Sātāli, Sāti, Sānu, Sikhā Moggallāna, Sigāla, Sirimā, Siva, Sīvali, Sīha the general, Sukhā, Suciloma, Sujātā, daughter-in-law of Anāthapiṇḍika, Sudatta, Sunakkhatta, Sunīta, Sundara Samudda, Sundarīnandā, the leper Suppabuddha, Suppavāsā, Subha Todeyyaputta, the two nuns named Subhā, Subhūti, the novice Sumana, Sumanā, sister of Pasenadi, Subrahmā, Surādha, Suriya, Susīma, Seniya, Seri, Sela, Soṇa Kuṭikaṇṇa, Soṇa Koḷivisa, Soṇadaṇḍa, Soṇā, the two Sopākas, Hatthaka Āḷavaka, Hatthaka Devaputta and Hemavata.

See also Buddha and Bodhisatta.

Gotama 11. Gotama Buddha. Vị Phật cuối cùng trong số hai mươi lăm vị Phật.

Hiện vẫn chưa thể có một tiểu sử toàn diện nào về Gotama Buddha. Những chi tiết được đưa ra trong bài viết này là những chi tiết thường được những người Theravādins chính thống chấp nhận và được chứa đựng trong các kinh sách của họ, chủ yếu là các bản Chú giải Pāli, đặc biệt là Nidānakathā của Jātaka và Chú giải Buddhavaṁsa

Các chi tiết tiểu sử cũng được tìm thấy trong Mahā VaggaCūḷa Vagga của Vinayapiṭaka, quyển Buddhavaṁsa và trong nhiều đoạn rải rác của các Nikāyas thuộc Suttapiṭaka. Các trích dẫn đến những nguồn này được đưa ra ở những nơi được cho là hữu ích. Có những tranh cãi xoay quanh nhiều vấn đề được đề cập đến; để biết thêm về các quan điểm khác nhau đối với những vấn đề này, nên tham khảo các tác phẩm của Oldenberg, Rhys Davids (cả Giáo sư và Bà Rhys Davids), Kern, E. J. Thomas và các học giả khác. Các chi tiết thêm về những người và những địa danh được đề cập có thể tìm thấy bằng cách tham khảo các bài viết dưới những tên tương ứng.

Ngài là người Sākiyan (những người Sākiyans rõ ràng là thần dân của vua nước Kosala; Đức Phật gọi chính Ngài là một người Kosalan, MN.ii.124), con trai của Suddhodana (tất cả các Chú giải Pāli và các tác phẩm tiếng Sanskrit đều miêu tả Đức Phật là con trai của một vị vua, hậu duệ của một dòng dõi dài gồm những tổ tiên nổi tiếng), người cai trị chính của Kapilavatthu, và của vương hậu Mahā Māyā, chánh thất của Suddhodana, và Ngài thuộc về dòng họ Gotamagotta.

Trước khi thọ thai, Ngài ngự ở cõi trời Tusita, chờ đợi thời điểm thích hợp để đản sinh trong kiếp sống cuối cùng của mình. Sau đó, khi đã thực hiện "năm sự quán sát" (pañcavilokanāni) (xem Buddha), Ngài từ biệt những người bạn của mình và giáng phàm. (Theo tác phẩm Lalitavistara, Ngài đã chỉ định Bodhisatta Maitreya làm vua cõi Tusita thay vị trí của Ngài). Nhiều sự kiện kỳ diệu và phi thường đã diễn ra cùng lúc với sự thọ thai và sự đản sinh của Ngài. (Được ghi trong kinh Acchariyabbhutadhammasutta, MN.iii.118f; cũng trong DN.ii.12f. Một tường thuật chi tiết hơn được tìm thấy trong Ja.i.47ff; cả Lalitavistara và Mvu.ii.14ff đều có sự khác biệt về các chi tiết được đưa ra ở đây về việc thọ thai và đản sinh).

Sự thọ thai diễn ra vào ngày trăng tròn của tháng Āsāḷha, với mặt trăng ở chòm sao Uttarāsāḷha, và Māyā không hề có quan hệ ân ái với chồng. Bà có một giấc mơ kỳ diệu, trong đó vị Bodhisatta dưới hình dạng một con voi trắng, đi vào bụng bà qua hông của bà. Khi giấc mơ được kể lại cho các vị Bà-la-môn, họ tiên đoán sự ra đời của một người con trai, người sẽ trở thành một vị vua chuyển luân hoặc một vị Phật. Một trận động đất xảy ra và ba mươi hai điềm lành xuất hiện, báo trước sự ra đời của một bậc vĩ nhân. Điềm lành đầu tiên trong số những dấu hiệu này là một ánh sáng vĩ đại vô biên, tràn ngập mọi ngóc ngách của mười ngàn thế giới; mọi người đều nhìn thấy ánh hào quang của nó, thậm chí cả những ngọn lửa ở mọi địa ngục cũng bị dập tắt. Mười tháng sau khi thọ thai, vào tháng Visākha, Māyā mong muốn về thăm cha mẹ mình ở Devadaha. Trên đường đến đó từ Kapilavatthu bà đi ngang qua khu rừng Lumbini xinh đẹp, nơi mà bà khao khát được dạo chơi; bà đi đến một cây sāla lớn và nắm lấy một cành cây trong tay; cơn đau đẻ bắt đầu ngay lập tức, và, khi các cận thần đã lui ra, sau khi đã kéo rèm che quanh bà, ngay cả khi đang đứng, bà đã hạ sinh đứa bé. Đó là ngày trăng tròn tháng Visākha; bốn vị Mahā Brahmas đỡ lấy đứa trẻ sơ sinh trong một tấm lưới bằng vàng, và những dòng nước từ trên trời giáng xuống để tắm cho ngài. Cậu bé đứng trên mặt đất, bước đi bảy bước về hướng Bắc và cất lên tiếng rống sư tử của mình, “Ta là bậc tối tôn trên thế gian.” Cũng trong ngày đó bảy người/vật khác đã ra đời: cây Bodhi, mẹ của Rāhula (Rāhulamātā, người vợ tương lai của ngài), Bốn Kho báu (được miêu tả tại DN­a.i.284), con voi của ngài, con ngựa Kanthaka của ngài, người đánh xe Channa của ngài, và Kāḷudāyī. Đứa trẻ sơ sinh được hộ tống trở lại Kapilavatthu vào chính ngày đản sinh của ngài và mẹ ngài qua đời bảy ngày sau đó.

Vị đạo sĩ Isi Asita (hoặc Kāḷadevala), khi đang thiền định ở Himālaya, đã biết được từ chư thiên cõi Tāvatiṁsa về sự đản sinh của Đức Phật, ông đến thăm Suddhodana vào cùng ngày hôm đó và nhìn thấy cậu bé, người mà cả hai đều đảnh lễ. Asita khóc vì buồn tủi rằng ông sẽ không còn sống để chứng kiến sự giác ngộ thành Phật của cậu bé, nhưng ông căn dặn cháu trai mình là Nālaka (v.l. Naradatta) hãy tự chuẩn bị cho ngày trọng đại đó. Vào ngày thứ năm sau khi đản sinh diễn ra lễ đặt tên. Một trăm lẻ tám vị Bà-la-môn được mời đến lễ hội tại hoàng cung; tám người trong số họ – Rāma, Dhaja, Lakkhaṇa, Manti, Koṇḍañña, Bhoja, SuyāmaSudatta – là những người đoán tướng, và tất cả ngoại trừ Koṇḍañña đều tiên đoán hai khả năng cho cậu bé; nhưng Koṇḍañña, người trẻ nhất, nói một cách hoàn toàn quả quyết rằng, cậu sẽ trở thành một vị Phật. Cái tên được đặt cho cậu bé trong buổi lễ này không thực sự được nhắc đến, nhưng từ những đoạn khác có thể suy ra rằng đó là Siddhattha (q.v.).

Trong số những sự kiện khác được kể lại về thời thơ ấu của Đức Phật là việc ngài chứng đạt jhāna đầu tiên dưới một cây jambu. Một ngày nọ, ngài được đưa đến buổi lễ cày ruộng của nhà vua, nơi chính Suddhodana với chiếc cày bằng vàng của mình, cày cùng các nông dân. Những người vú nuôi, bị thu hút bởi các hoạt động hội hè, đã để lại đứa trẻ dưới một cây jambu. Họ quay lại thì thấy ngài đang ngồi vắt chéo chân, trong một jhāna, bóng của cái cây vẫn đứng yên, để che chở ngài. Nhà vua được báo tin và, lần thứ hai, đảnh lễ con trai mình. Ja.i.57f; MN­a.i.466f; sự kiện này được ám chỉ trong Mahā Saccakasutta (MN.i.246); sự kiện tương ứng được kể trong Mahā Vastu (Mvu.ii.45f.) diễn ra tại một công viên, và các chi tiết hoàn toàn khác biệt. Lalitavistara có hai phiên bản, một bằng văn xuôi và một bằng thơ và cả hai đều giống Mahā Vastu; nhưng trong các phiên bản này, Đức Phật được miêu tả là lớn tuổi hơn nhiều. Divyāvadāna (391) và các phiên bản Tây Tạng (ví dụ: Rockhill, p.22) đặt sự kiện này vào thời điểm muộn hơn rất nhiều trong cuộc đời Đức Phật. Các sự kiện khác được đưa ra trong LalitavistaraMahā Vastu.

Bodhisatta được ghi nhận là đã sống trong gia đình trong hai mươi chín năm, một cuộc sống vô cùng xa hoa và an nhàn tột độ, được bao quanh bởi mọi sự tiện nghi có thể tưởng tượng được. Ngài sở hữu ba cung điện – Ramma, SurammaSubha – cho ba mùa. Cuộc sống xa hoa của ngài được đề cập trong AN.i.145; cũng như trong MN.i.504; các chi tiết xa hơn được đưa ra trong AN­a.i.378f.; Ja.i.58. Xem thêm Mvu.ii.115; cf. Vin.i.15; DN.ii.21.

Khi Bodhisatta mười sáu tuổi, Suddhodana cử các sứ giả đến những người Sākiyan yêu cầu cho phép con trai mình tìm vợ trong số các con gái của họ; nhưng những người Sākiyan miễn cưỡng gửi họ đi, vì họ nói rằng, mặc dù chàng trai trẻ đẹp trai, ngài không biết một tài nghệ nào; vậy thì, làm sao ngài có thể nuôi vợ? Khi điều này được báo lại cho thái tử, ngài triệu tập một hội nghị của những người Sākiyan và thực hiện các kỳ tích khác nhau, quan trọng nhất trong số đó là mười hai kỳ tích với một cây cung cần sức mạnh của một ngàn người. (Các kỳ tích với cây cung được miêu tả trong Sarabhaṅgajātaka, Ja.v.129f). Những người Sākiyan vô cùng ấn tượng đến nỗi mỗi người gửi cho ngài một người con gái, tổng số người được gửi đến là bốn mươi ngàn. Bodhisatta chỉ định làm người vợ cả của mình con gái của Suppabuddha, người mà, sau này, được gọi là Rāhulamātā. Bà được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau: Bhaddakaccā (hay Bhaddakaccānā), Yasodharā, Bimbā, Bimbasundarī và Gopā. Để thảo luận chi tiết, xem Rāhulamātā.

Theo lời tường thuật được chấp nhận chung, Gotama hai mươi chín tuổi khi những sự kiện dẫn đến sự từ bỏ cuối cùng xảy ra. Theo sau lời tiên tri của tám vị Bà-la-môn, cha ngài đã thực hiện mọi sự đề phòng để con trai mình không nhìn thấy bất kỳ dấu hiệu nào của tuổi già, bệnh tật hay cái chết. Nhưng chư thiên quyết định rằng đã đến thời điểm cho sự Giác ngộ, và gieo vào lòng Gotama mong muốn đi ra công viên. Trên đường đi, chư thiên đặt trước ngài một người đàn ông có những dấu hiệu tuổi già tột độ, và Bodhisatta trở về, tràn đầy khao khát từ bỏ. Nhà vua, khi biết được điều này, đã bao quanh ngài với những sự thu hút thậm chí còn lớn hơn, nhưng vào hai ngày khác Gotama đi ra công viên và chư thiên đặt trước ngài một người bệnh và một thi thể. (Theo một số lời tường thuật, ví dụ như của những vị Dīghabhāṇaka, bốn điềm báo đều được nhìn thấy trong cùng một ngày, Ja.i.59)

Vào ngày trăng tròn của tháng Āsāḷha, ngày được ấn định cho sự Đại Từ Bỏ, Gotama nhìn thấy một vị xuất gia và nghe từ người đánh xe của mình những lời ca ngợi về cuộc sống xuất gia. Cảm thấy rất hạnh phúc, ngài đến công viên để vui chơi. Sakka đích thân phái Vissakamma xuống để tắm rửa và trang điểm cho ngài, và khi Gotama trở về thành phố trong tất cả sự uy nghi của mình, ngài nhận được tin con trai mình chào đời. Nhìn thấy trước trong tin tức này một sự ràng buộc, ngài quyết định gọi đứa bé là Rāhula (q.v.) (Trong một số phiên bản, sự Từ bỏ diễn ra bảy ngày sau sự ra đời của Rāhula, Ja.i.62). Kisā Gotamī (q.v.) nhìn thấy Gotama trên đường trở về cung điện và, tràn đầy sự khao khát đối với ngài, đã hát cho ngài nghe một bài hát có chứa từ nibbuta. Ý nghĩa của từ này (= dập tắt, bình yên) làm ngài xúc động, và ngài gửi cho Kisā chiếc vòng cổ bằng vàng vô giá của mình mà bà, tuy nhiên, đón nhận như một kỷ vật tình yêu. Gotama vào cung điện và ngủ. Ngài thức dậy vào giữa đêm và thấy các nữ nhạc công của mình đang ngủ với những tư thế khiến ngài tràn ngập sự chán ghét và ghê tởm đối với cuộc sống thế tục, và ngài quyết định rời bỏ nó. Ngài ra lệnh cho Channa thắng yên cho Kanthaka, và đi vào phòng của vợ ngài để nhìn bà và con trai họ lần cuối.

Ngài rời khỏi kinh thành trên lưng ngựa Kanthaka, với Channa bám vào đuôi ngựa. Chư thiên làm tắt tiếng móng ngựa và tiếng hí của nó, đồng thời mở cổng thành để Gotama đi qua. Māra xuất hiện trước Gotama và tìm cách giữ ngài lại bằng lời hứa rằng ngài sẽ trở thành vị vua chuyển luân trong vòng bảy ngày tới. Khi lời đề nghị bị từ chối, Māra đe dọa sẽ luôn bám sát ngài. Bên ngoài kinh thành, tại địa điểm mà sau này bảo tháp Kanthakanivattanacetiya được dựng lên, Gotama quay ngựa lại để nhìn Kapilavatthu lần cuối. Người ta nói rằng mặt đất thực sự đã xoay lại, để giúp ngài dễ dàng làm điều đó. Sau đó, với sự hộ tống của chư thiên, ngài cưỡi ngựa ba mươi do-tuần qua ba vương quốc – của người Sākiyan, người Koḷiyan và người Malla – và con ngựa của ngài vượt qua sông Anomā chỉ trong một cú nhảy. Ở bờ bên kia, ngài đưa tất cả đồ trang sức của mình cho Channa, và dùng gươm cắt đứt tóc và râu, ném chúng lên không trung, nơi Sakka đón lấy chúng và tôn trí trong bảo tháp Cūḷāmaṇicetiya ở cõi Tāvatiṁsa. Phạm thiên (Brahma) Ghaṭīkāra dâng lên Gotama tám món vật dụng của một vị tỳ-kheo, ngài nhận và sử dụng chúng. Sau đó ngài bảo Channa và Kanthaka trở về với phụ vương, nhưng Kanthaka, do tan nát cõi lòng, đã chết ngay tại chỗ và tái sinh làm thiên tử (Devaputta) Kanthaka.

Ghi chép được đưa ra ở đây chủ yếu lấy từ Nidānakathā (Ja.i.59ff) và hiển nhiên tiêu biểu cho truyền thống sau này; so sánh DN.ii.21ff. Từ các đoạn được tìm thấy trong các Piṭaka (ví dụ: AN.i.145; MN.i.163, 240; MN.ii.212f.) dường như các sự kiện dẫn đến việc Xuất gia không kịch tính như được đưa ra ở đây, tiến trình diễn ra từ từ hơn. Tuy nhiên, tôi không đồng ý với Thomas (op.cit., 58) rằng, theo các ghi chép này, Bodhisatta đã rời bỏ thế gian khi "còn là một cậu bé". Tôi nghĩ từ dahara được dùng đơn thuần để chỉ "thời thanh xuân", và không nhất thiết là "thời niên thiếu". Lời mô tả về sự kiện Xuất gia trong Lalitavistara chi tiết hơn rất nhiều và thêm vào vô số tình tiết, mà không có ghi chép nào về chúng được tìm thấy trong tiếng Pāli.

Từ Anomā, Bodhisatta đi đến vườn xoài ở Anupiya, và sau khi dành bảy ngày ở đó ngài đi bộ đến Rājagaha (khoảng cách là ba mươi do-tuần) trong một ngày, và bắt đầu việc khất thực tại đây. Người của Bimbisāra, để ý thấy ngài, đã báo cáo sự việc với nhà vua, vị này cử sứ giả đi dò hỏi xem vị ẩn sĩ này là ai. Những người này theo Gotama đến chân núi pabbata Paṇḍava, nơi ngài dùng bữa, và sau đó họ trở về báo cáo với nhà vua. Bimbisāra đến thăm Gotama, và, hài lòng khi nghe ngài nói, ngỏ ý nhường ngôi vua cho ngài. Khi biết được bản chất sự tìm cầu của Gotama, vua có được lời hứa từ ngài là sẽ viếng thăm Rājagaha đầu tiên sau khi Giác ngộ.

Sự kiện này cũng được đề cập trong kinh Pabbajjāsutta (Snp.vv.405-24), nhưng ở đó nhà vua mới là người đầu tiên nhìn thấy Gotama. Một điều đáng chú ý là, khi được hỏi về danh tính của mình, Gotama không nói ngài là con trai của một vị vua. Phiên bản tiếng Pāli của kinh (Sutta) không có nội dung nào về lời hứa của Gotama sẽ đến thăm Rājagaha, nhưng phiên bản Mahā Vastu (Mvu.ii.198-200), vốn đặt chuyến viếng thăm diễn ra muộn hơn, lại có hai bài kệ, một bài chứa lời thỉnh cầu và bài kia là sự chấp thuận; và Snp­a. (ii.385f.) cũng đề cập đến lời hứa và kể rằng Bimbisāra đã được báo cho biết về lời tiên tri liên quan đến Gotama. Có một phiên bản khác của Mahā Vastu (ii.117-20) cho biết Gotama đã đi thẳng đến Vaiśāli sau khi rời nhà, gia nhập hội chúng của Āḷāra, và sau đó đến thăm Uddaka tại Rājagaha. Ở đây không thấy đề cập đến Bimbisāra. Chúng ta được biết trong Mahā Vaṁsa (ii.25ff) rằng Bimbisāra và Gotama (Siddhattha) từng là bạn cùng chơi thuở nhỏ, Bimbisāra nhỏ hơn năm tuổi. Phụ vương của Bimbisāra (Bhātī) và Suddhodana là những người bạn.

Du hành từ Rājagaha, Gotama theo thời gian trở thành đệ tử của Āḷāra Kāḷāma. Sau khi đã học và thực hành tất cả những gì Āḷāra truyền dạy, ngài thấy không thỏa mãn và gia nhập cùng Uddaka Rāmaputta; nhưng giáo pháp của Uddaka vẫn không thuyết phục được ngài và ngài đã từ bỏ nó. Sau đó ngài đi đến SenānīnigamaUruvelā và tại đó, trong sáu năm, thực hành đủ mọi lối khổ hạnh khắc nghiệt, như chưa từng có người nào thực hiện trước đó. Có lần ngài ngất xỉu và một deva báo cho Suddhodana rằng Gotama đã chết. Nhưng Suddhodana, dựa vào lời tiên tri của Kāḷadevala, từ chối tin vào tin tức đó. Mẹ của Gotama, lúc này đã tái sinh làm một Devaputta ở Tāvatiṁsa, đến gặp ngài để khích lệ. Tại Uruvelā, các vị tỳ-kheo Pañcavaggiya là những người bạn đồng hành của ngài, nhưng giờ đây, sau khi nhận ra sự vô ích của lối tu khổ hạnh cực đoan, ngài quyết định từ bỏ nó, và bắt đầu dùng lại thức ăn bình thường; ngay sau đó nhóm Pañcavaggiya, thất vọng, rời bỏ ngài và đi đến Isipatana.

Ja.i.66f. Chú giải Therīgāthā (p.2) có đề cập đến một vị thầy khác của Gotama, tên là Bhaggava, người mà Gotama đã đến thăm trước Āḷāra. Lalitavistara (330 264) chứa một bản tường thuật rất chi tiết về các chuyến viếng thăm những vị thầy của Gotama; đầu tiên ngài đến gặp hai nữ Bà-la-môn là Śākī và Padmā, sau đó là Raivata và Rajaka, con trai của Trimaṇḍika, và cuối cùng (trong phạm vi của chương này) đến gặp Āḷāra tại Vaiśāli. Một bài kệ chứa bản tường thuật về cuộc gặp gỡ của Gotama với Bimbisāra được chèn vào bản tường thuật này. Chương tiếp theo kể về Uddaka. Một bản tường thuật về các chuyến viếng thăm những vị thầy của Gotama và các chi tiết về những lần tu khổ hạnh của ngài cũng được đưa ra trong Mahā Saccakasutta, đã được nhắc đến ở trên (MN.i.240ff); Mahā Sīhanādasutta (MN.i.77ff) chứa một bản tường thuật dài và chi tiết về lối tu khổ hạnh khắc nghiệt của ngài. Xem thêm MN.i.163ff; ii.93f.

Mong muốn dùng lại thức ăn bình thường của Gotama được đáp ứng bởi một món vật thực cúng dường do Sujātā mang đến tại cây bàng Ajapāla nơi ngài đang ngồi. Cô đã lập một lời thỉnh nguyện với cây này, và khi điều ước của cô được hoàn thành, cô dắt theo cô hầu gái của mình, Puṇṇā, và đi đến cái cây để chuẩn bị thực hiện lời hứa của mình. Họ tưởng Gotama là vị Thọ thần, đích thân đến để nhận món cơm sữa cúng dường của cô; món vật thực được cúng dường trong một chiếc bát vàng và ngài hoan hỷ thọ nhận nó. Năm giấc mộng mà ngài đã thấy vào đêm hôm trước thuyết phục Gotama rằng ngày hôm đó ngài sẽ trở thành vị Phật. (Các giấc mộng được kể lại trong AN.iii.240 và trong Mvu.ii.136f). Đó là ngày rằm tháng Visākha; ngài tắm tại bến Suppatiṭṭha trên sông Nerañjarā, thọ thực và thả chiếc bát trôi ngược dòng, nơi nó chìm xuống chỗ ở của vị vua Nāga, Kāḷa (Mahā Kāḷa).

Gotama dành phần còn lại của ngày trong một khu rừng sāla và, vào buổi chiều tối, đi đến gốc cây Bodhi, được hộ tống bởi nhiều chư thiên khác nhau; tại đó người cắt cỏ Sotthiya dâng cho ngài tám nắm cỏ; sau khi xem xét, Gotama rải chúng ở phía đông của cái cây, nơi đó biến thành một chỗ ngồi dài mười bốn gang tay, trên đó ngài ngồi kiết già, quyết tâm không đứng dậy trước khi đạt được Giác ngộ, Ja.i.69.

Các Piṭaka không biết gì về món cúng dường của Sujātā hay về món quà của Sotthiya. Lalitavistara (334-7 267-70) đề cập tổng cộng đến mười cô gái đã cung cấp vật thực cho ngài trong thời gian ngài tu khổ hạnh. Divyāvadāna (392) đề cập đến hai người, Nandā và Nandabalā.

Māra, chúa tể của thế giới dục vọng, quyết tâm ngăn cản sự thành tựu này, và tấn công Gotama với tất cả sức mạnh dưới quyền mình. Đội quân của y trải dài mười hai do-tuần ở phía trước, bên phải, và bên trái của y, cho đến tận cùng của Cakkavāḷa ở phía sau y, và chín do-tuần vào bầu trời phía trên y. Đích thân Māra mang theo nhiều loại vũ khí và cưỡi con voi Girimekhala, cao một trăm năm mươi do-tuần. Nhìn thấy y, tất cả chư thiên tụ họp tại cây Bodhi để tôn vinh Gotama – vị Brahma vĩ đại, Sakka, vị vua Nāga Mahā Kāḷa – biến mất trong nháy mắt, và Gotama bị bỏ lại một mình với mười pāramī, mà ngài đã thực hành từ lâu, làm sự bảo vệ duy nhất của mình. Mọi nỗ lực của Māra nhằm làm cho ngài hoảng sợ bằng các cơn bão và những ảo ảnh đáng sợ đều thất bại, và, cuối cùng, Māra ném Cakkāvudha vào ngài. Nó đọng lại như một chiếc lọng che lơ lửng phía trên Gotama. Chính mặt đất làm chứng cho sự xứng đáng của Gotama để trở thành Bậc Giác Ngộ, và Girimekhala quỳ gối trước ngài. Māra bị đánh bại và tháo chạy cắm đầu cùng với đạo quân khổng lồ của mình. Các chư thiên khác nhau đã bỏ chạy khi Māra đến gần giờ đây quay lại với Gotama và hoan hỉ trong sự chiến thắng của ngài.

Toàn bộ câu chuyện về cuộc chiến với Māra rõ ràng là một sự phát triển mang tính thần thoại. Điều đáng lưu ý là trong các đoạn kinh Majjhima được nhắc đến trước đó không hề đề cập đến Māra, về một sự cám dỗ, hay thậm chí là cây bodhi; nhưng xem DN.ii.4 và Thomas (op.cit., n.1). Theo Kāliṅgabodhijātaka, rất có thể chứa đựng một truyền thống cổ xưa, cây bodhi đã được chiêm bái ngay cả khi Đức Phật còn tại thế. Tuy nhiên, truyền thuyết về Māra được tìm thấy trong Padhānasutta của Suttanipāta thuộc Kinh tạng. Điều này có lẽ chứa đựng gợi ý đầu tiên về truyền thuyết này. Để xem một cuộc thảo luận, xem Māra.

Gotama trải qua đêm đó trong thiền định sâu sắc. Trong canh một ngài nhớ lại các kiếp sống trước đây của mình; trong canh giữa ngài đạt được thiên nhãn (dibbacakkhu); trong canh cuối ngài quán sát trong tâm Chuỗi Duyên khởi (paṭiccasamuppāda). Khi ngài thấu đạt điều này, trái đất rung chuyển và, cùng với bình minh, Sự Giác ngộ đến. Bây giờ ngài là vị Phật tối thượng, và ngài thốt lên một bài kệ hoan hỷ (udāna).

Có nhiều nghi vấn lớn về việc đâu là những câu kệ Udāna này. Nidānakathā và các Chú giải nói chung trích dẫn hai câu kệ (153, 154) được bao gồm trong tuyển tập Dhammapada (anekajāti Saṁsāraṁ, v.v.). Vinaya (i.2) trích dẫn ba câu kệ khác nhau (Dhs­a.17 cũng vậy), và nói rằng một câu kệ đã được lặp lại vào cuối mỗi canh, tất cả các canh đều được dành cho việc thiền định về paṭiccasamuppāda. Mahā Vastu (Mvu.ii.286) đưa ra một Udāna hoàn toàn khác, và ở một chỗ khác (ii.416) đề cập đến một câu kệ khác là Udāna đầu tiên. Vinaya của Tây Tạng, một lần nữa, lại hoàn toàn khác (Rockhill, p.33). Để xem một cuộc thảo luận, xem Thomas: Life and Legend of the Buddha, 75ff.

Trong tuần đầu tiên, Đức Phật ở lại dưới cây bodhi, thiền định về paṭiccasamuppāda; tuần thứ hai ngài trải qua tại Ajapālanigrodha, nơi vị Bà-la-môn “Huhuṅka” tiếp cận ngài (Māra lúc này lại đến và yêu cầu Đức Phật viên tịch ngay lập tức; DN.ii.112) và nơi các con gái của Māra, Taṇhā, AratīRāgā, xuất hiện trước Đức Phật và thực hiện một nỗ lực cuối cùng nhằm làm lung lay sự quyết tâm của ngài (Ja.i.78; SN.i.124; Lal.490 (378); tuần thứ ba ngài trải qua dưới mái vòm của Nāga vương Mucalinda (Vin.i.3); tuần thứ tư được dành cho việc thiền định dưới cây Rājāyatana; vào cuối khoảng thời gian này đã diễn ra sự độ hóa TapussaBhallika. Họ nương tựa vào Đức Phật và Pháp, mặc dù Đức Phật không ban cho họ bất kỳ lời chỉ dạy nào. Đây là tường thuật của Vinaya (Vin.i.1ff); nhưng Jātaka (Ja.i.77ff) kéo dài thời gian này thành bảy tuần, các tuần bổ sung được chèn vào giữa tuần đầu và tuần thứ hai. Đức Phật trải qua mỗi tuần tại Animisacetiya, Ratanacaṅkama và Ratanaghara, và nơi cuối cùng này là nơi ngài suy xét ra Abhidhammapiṭaka.

Những nghi ngờ lúc này bủa vây Đức Phật về việc liệu ngài có nên công bố cho thế gian giáo pháp của ngài, quá thâm sâu, quá khó hiểu hay không. Phạm thiên (Brahma) Sahampati (theo Ja.i.81, cùng với các vị thần của một ngàn thế giới, bao gồm Sakka, Suyāma, Santusita, Sunimmita, Vasavatti, v.v.) xuất hiện trước ngài và cam đoan với ngài rằng có nhiều người đã sẵn sàng lắng nghe ngài và hưởng lợi từ giáo pháp của ngài, và vì thế thỉnh cầu ngài thuyết giảng Pháp. Đức Phật chấp thuận lời thỉnh cầu của ông và, sau khi suy xét, quyết định giảng Pháp trước tiên cho nhóm Pañcavaggiyas tại Isipatana. Trên đường đến Benares ngài gặp Ājīvaka Upaka và báo cho ông ấy biết rằng ngài (Đức Buddha) là một Jina. Khi ngài đến Isipatana nhóm Pañcavaggiyas lúc đầu miễn cưỡng công nhận lời tuyên bố của ngài là Tathāgata, nhưng họ đã để mình bị thuyết phục và, vào ngày trăng tròn tháng Āsāḷha, Đức Phật thuyết giảng cho họ bài pháp sau này được biết đến là Dhammacakkappavattanasutta (Vin.i.4ff; MN.i.118ff; cp. DN.ii.36ff. Về tuyên bố coi Sutta này là bài pháp đầu tiên của Đức Phật, xem Thomas: Life and Legend of the Buddha, p.86; xem thêm Pañcavaggiyā). Vào cuối bài giảng Koṇḍañña trở thành một Sotāpanna và tất cả họ đều trở thành tỳ-kheo.

Bài pháp này được nối tiếp năm ngày sau đó bởi Anattalakkhaṇasutta, khi kết thúc kinh này cả năm vị đều trở thành các vị Arahant. Ngày hôm sau Đức Phật gặp Yasa, người mà ngài đã độ hóa. Cha của Yasa, người đến tìm ông, là người đầu tiên thọ nhận công thức quy y Tam bảo.

Yasa chứng quả Arahant và được xuất gia. Đức Phật nhận lời thọ trai tại nhà ông, và mẹ của Yasa cùng một trong những người vợ cũ của ông là hai nữ cư sĩ đầu tiên trở thành đệ tử của Đức Phật. Sau đó, bốn người bạn của Yasa và, về sau, năm mươi người nữa, gia nhập Tăng đoàn và trở thành các bậc Arahant. Lúc bấy giờ đã có sáu mươi bậc Arahant ngoại trừ Đức Phật, và họ được cử đi các hướng khác nhau để thuyết giảng Pháp. Họ quay về cùng với nhiều người xin gia nhập Tăng đoàn, và Đức Phật, người cho đến lúc bấy giờ đã cho nam giới xuất gia bằng công thức “ehi bhikkhu”, nay cho phép chính các tỳ-kheo thực hiện nghi thức xuất gia (Vin.i.15ff; Ja.i.81f).

Sau khi trải qua mùa an cư tại Benares, Đức Phật trở về Senānīgāma ở Uruvela, trên đường đi Ngài đã hóa độ và cho ba mươi vị Bhaddavaggiyā xuất gia (khoảng thời gian này Māra hai lần cố gắng cám dỗ Đức Phật, một lần sau khi Ngài phái các đệ tử đi thuyết pháp và một lần sau mùa an cư, SN.i.105, 111; Vin.i.21, 22).

Tại Uruvela, sau một thời gian dài phô diễn các thần thông, bao gồm tổng cộng ba ngàn năm trăm phép lạ, Đức Phật đã thu phục được ba anh em Kassapa, tức những vị Tebhātikajaṭilā, cùng với một ngàn môn đồ của họ, và cho họ xuất gia. Họ trở thành các bậc Arahant sau khi nghe bài kinh Ādittapariyāyasutta được thuyết tại Gayāsīsa; cùng với các đệ tử này Ngài đi thăm Rājagaha, nơi Vua Seniya Bimbisāra đến yết kiến Ngài tại Laṭṭhivanuyyāna. Ngày hôm sau, Đức Phật và các tỳ-kheo đến cung điện, đi trước là Sakka hóa trang thành một thanh niên và hát ca ngợi Đức Phật. Sau bữa ăn, nhà vua dâng cúng Veḷuvana cho Đức Phật và Tăng đoàn. Đức Phật lưu lại Rājagaha trong hai tháng (Bv­a.4), và chính trong thời gian này SāriputtaMoggallāna gia nhập Tăng đoàn, thông qua vai trò của Assaji (Vin.i.23ff). Có lẽ trong năm này, vào đầu mùa an cư, Đức Phật đã đến thăm Vesālī theo lời thỉnh cầu của những người Licchavīs, được truyền đạt thông qua Mahāli. Thành phố lúc bấy giờ đang hứng chịu dịch bệnh và nạn đói. Đức Phật đã đến, thuyết bài kinh Ratanasutta và xua tan mọi hiểm họa (Dhp­a.iii.436ff).

Số lượng người cải đạo nay gia tăng nhanh chóng và dân chúng Magadha, hoảng sợ trước viễn cảnh không con cái, góa bụa, v.v., đã đổ lỗi cho Đức Phật và các tỳ-kheo của Ngài. Tuy nhiên, Đức Phật đã bác bỏ những cáo buộc của họ (Vin.i.42f).

Ghi chép về hai mươi năm đầu tiên trong thời kỳ hoằng pháp của Đức Phật được tóm tắt từ nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu từ ghi chép đáng khâm phục của Thomas trong tác phẩm Life and Legend of the Buddha (pp.97ff). Các tài liệu tham khảo cần thiết có thể được tìm thấy dưới các tên gọi đã được đề cập.

Vào ngày trăng tròn tháng Phagguna (tháng 2-3), Đức Phật, cùng với hai vạn tỳ-kheo, lên đường đến Kapilavatthu theo lời thỉnh cầu khẩn thiết của phụ thân Ngài, được truyền đạt thông qua Kāḷudāyī (chuyến viếng thăm này không được đề cập trong Chánh tạng; nhưng xem Thag.527-36; AN­a.i.107, 167; Ja.i.87; Dhp­a.i.96f; Thag­a.i.997ff).

Đi từng chặng đường ngắn, Ngài đến thành phố này, tại đây Ngài ngụ tại Nigrodhārāma, và, để thuyết phục những người họ hàng kiêu hãnh của mình về năng lực của Ngài, Ngài thi triển Yamakapāṭihāriya và sau đó kể câu chuyện Vessantarajātaka. Ngày hôm sau, không nhận được lời thỉnh mời thọ trai nào, Đức Phật đi khất thực trên các đường phố của thành phố; điều này khiến Suddhodana vô cùng đau buồn, nhưng sau đó, biết được đó là tập tục của tất cả chư Phật, ông trở thành một vị Sotāpanna và đưa Đức Phật cùng các tỳ-kheo đến dùng bữa tại cung điện. Tại đây tất cả những người phụ nữ trong cung điện, chỉ ngoại trừ Rāhulamātā, đều đến đảnh lễ Đức Phật. Mahā Pajāpatī trở thành một vị Sotāpanna và Suddhodana trở thành một vị sakadāgāmi. Đức Phật đến thăm Rāhulamātā tại nơi ở riêng của bà và tán thán bà trong câu chuyện Candakinnarajātaka. Ngày hôm sau, Đức Phật thuyết phục người em cùng cha khác mẹ của mình là Nanda đến tu viện, tại đó Ngài cho ông xuất gia và, vào ngày thứ bảy, Ngài cũng làm điều tương tự với Rāhula. Đây là một cú sốc quá lớn đối với Suddhodana, và theo thỉnh cầu của ông, Đức Phật quy định rằng sẽ không ai được xuất gia mà không có sự đồng ý của cha mẹ. Ngày hôm sau, Đức Phật thuyết pháp cho Suddhodana, người đã chứng quả Anāgāmī. Trong chuyến viếng thăm của Đức Phật đến Kapilavatthu, tám vạn người Sākiyans đã gia nhập Tăng đoàn, mỗi gia đình một người. Với những vị này Ngài trở về Rājagaha, trên đường đi Ngài dừng chân tại Anupiya, tại đây Anuruddha, Bhaddiya, Ānanda, Bhagu, KimbilaDevadatta, cùng với thợ cạo của họ là Upāli, đến thăm Ngài và xin xuất gia.

Khi trở về Rājagaha, Đức Phật trú tại Sītavana (Ja.i.92, câu chuyện cũng được kể trong Vinaya ii.154, nhưng không chỉ rõ thời gian). Tại đây, Sudatta, sau này được biết đến với tên Anāthapiṇḍika, viếng thăm Ngài, được cải hóa, và thỉnh cầu Ngài đến Sāvatthī. Đức Phật nhận lời thỉnh cầu và du hành qua Vesālī để đến Sāvatthī, lưu lại đó để trải qua mùa an cư (Vin.ii.158; nhưng xem Bv­a.3, nơi ghi nhận Đức Phật đã trải qua mùa an cư (vassa) ở Rājagaha). Anāthapiṇḍika dâng cúng Jetavana, được trang bị mọi vật dụng cần thiết, làm nơi cư trú cho Đức Phật và chư tỳ-kheo. Có lẽ trong khoảng thời gian này đã diễn ra sự kiện cải hóa Migāra, cha chồng của Visākhā, và việc xây dựng Pubbārāma tại Sāvatthī do Visākhā thực hiện. Mùa an cư thứ tư Đức Phật trải qua tại Veḷuvana, nơi Ngài cải hóa Uggasena (Dhp­a.iv.59f). Vào năm thứ năm, Suddhodana băng hà, sau khi chứng đạt quả vị Arahant, và Đức Phật bay qua không trung, từ Kūṭāgārasālā ở Vesālī nơi Ngài đang ngự, để thuyết pháp cho phụ vương trên giường bệnh. Theo một nguồn sử liệu, chính vào thời điểm này đã nổ ra cuộc tranh chấp giữa những người Sākiyan và những người Koḷiyan liên quan đến việc tưới tiêu nước sông Rohiṇī (AN­a.i.186; Snp­a.i.357; Thīg­a.141; chi tiết về cuộc tranh chấp được kể trong Ja.v.412ff). Đức Phật thuyết phục họ hòa giải, và đến trú tại Nigrodhārāma. Mahā Pajāpatī Gotamī, cùng với các phụ nữ Sākiyan khác, đến viếng thăm Ngài tại đó và thỉnh cầu cho phép phụ nữ được gia nhập Tăng đoàn. Lời thỉnh cầu được đưa ra ba lần, cả ba lần đều bị từ chối, sau đó Đức Phật trở về Vesālī. Các phụ nữ cạo bỏ tóc, đắp y vàng và đi theo Ngài đến đó. Ānanda đã nói giúp cho họ và thỉnh cầu của họ được chấp thuận (Vin.ii.253ff; AN.iv.274f.; xem chi tiết ở mục Mahā Pajāpatī).

Vào năm thứ sáu, Đức Phật lại thực hiện Yamakapāṭihāriya, lần này ở gốc cây Gaṇḍamba tại Sāvatthī. Trước đó, Đức Phật đã cấm mọi hành vi phô diễn thần thông, nhưng đã tạo một ngoại lệ cho chính trường hợp của Ngài (Dhp­a.iii.199f.; Ja.iv.265, v.v.).

Ngài trải qua mùa an cư (vassa) tại Maṅkulapabbata. Sau khi thi triển thần thông, Ngài theo thông lệ của tất cả chư Phật và bước ba bước lên cõi Tāvatiṁsa để thuyết Abhidhamma cho thánh mẫu của Ngài, người đang sanh làm một thiên nhân (Deva) tại đây, và Ngài trải qua mùa an cư thứ bảy ở đó. Quần chúng, tụ tập tại Sāvatthī vào lúc diễn ra Yamakapāṭihāriya, từ chối rời đi cho đến khi họ được nhìn thấy Ngài. Do đó, trong ba tháng, Moggallāna đã giảng Pháp cho họ, trong khi Cūḷa Anāthapiṇḍika cung cấp thức ăn cho họ. Trong suốt thời gian thuyết Abhidhamma, Sāriputta đến viếng thăm Đức Phật mỗi ngày và học từ Ngài tất cả những gì đã được thuyết trong ngày hôm trước. Vào cuối mùa an cư (vassa), Đức Phật đi xuống một cầu thang nạm ngọc và đáp xuống mặt đất tại Saṅkassa, cách Sāvatthī ba mươi do-tuần (xem chi tiết ở mục Devorohaṇa). Cũng vào khoảng thời gian này, khi danh tiếng của Đức Phật đang ở đỉnh cao, Ciñcāmāṇavikā tai tiếng đã bị các thành viên của một giáo phái thù địch thuyết phục để đưa ra một lời buộc tội hèn hạ chống lại Đức Phật. Một câu chuyện tương tự, được kể liên quan đến một nữ du sĩ ngoại đạo (paribbājikā) tên là Sundarī, có lẽ đề cập đến một thời điểm muộn hơn.

Năm thứ tám Đức Phật trải qua ở đất nước của những người Bhagga và tại đây, trong khi đang trú ở Bhesakalāvana gần Suṁsumāragiri, Ngài gặp Nakulapitā và vợ của ông, những người từng là cha mẹ của Ngài trong năm trăm tiền kiếp (AN.A.i.217).

Điều tương tự cũng được kể về một cặp vợ chồng già khác ở Sāketa. Xem Sāketajātaka. Rõ ràng là Đức Phật đã lại lưu lại Suṁsumāragiri nhiều năm sau đó. Chính trong chuyến viếng thăm thứ hai của Ngài, Bodhirājakumāra (q.v.) đã thỉnh mời Ngài dùng bữa tại cung điện mới của ông để Đức Phật có thể ban phước cho tòa nhà nhờ sự hiện diện của Ngài.

Vào năm thứ chín, Đức Phật ở tại Kosambī. Trong khi đến thăm xứ Kuru, Ngài được hứa gả Māgandiyā, cô con gái xinh đẹp của Bà-la-môn Māgandiya. Việc Ngài từ chối lời đề nghị này, cùng với những lời nhận xét mang tính xúc phạm về vẻ đẹp thể xác, đã khơi dậy sự thù hằn của Māgandiyā, người từ đó về sau luôn mang lòng căm ghét Đức Phật. Snp., pp.163ff; Snp­a.ii.542ff; Dhp­a.i.199ff. Thomas (op.cit., 109) cho rằng sự kiện Māgandiyā xảy ra vào năm thứ chín. Tôi không chắc điều này có đúng hay không, vì các Bản chú giải nói rằng Đức Phật khi đó đang sống tại Sāvatthī.

Vào năm thứ mười, giữa các tỳ-kheo tại Kosambī đã nảy sinh một sự chia rẽ đe dọa đến sự tồn tại của Tăng đoàn. Đức Phật, sau khi thất bại trong việc hòa giải những người tranh chấp, đã chán nản rút lui vào khu rừng Pārileyyaka, trên đường đi Ngài đã đi ngang qua Bālakaloṇakāragāma và Pācīnavaṁsadāya. Trong rừng, Ngài được bảo vệ và phục vụ bởi một con voi thân thiện đã rời khỏi đàn. Đức Phật trải qua mùa an cư tại đó và trở về Sāvatthī. Vào lúc này, các tỳ-kheo ở Kosambī đã tỉnh ngộ và xin Đức Phật tha thứ. Lời xin lỗi được chấp thuận và cuộc tranh chấp được giải quyết. (Vin.i.337ff; Ja.iii.486f; Dhp­a.i.44ff; nhưng xem Ud.iv.5; s.v. Pārileyyaka).

Vào năm thứ mười một, Đức Phật cư trú tại ngôi làng Bà-la-môn Ekanāḷā và hóa độ Kasi Bhāradvāja (Snp., p.12f.; SN.i.172f). Năm thứ mười hai, Ngài trải qua tại Verañjā, nhập mùa an cư vassa tại đó theo lời thỉnh cầu của Bà-la-môn Verañja. Nhưng Verañja lại quên mất nghĩa vụ của mình; một nạn đói xảy ra, và năm trăm lái buôn ngựa đã cung cấp thức ăn cho các tỳ-kheo. Lời đề nghị lấy thức ăn bằng thần thông của Moggallāna không được tán thành (Vin.iii.1ff; Ja.iii.494f; Dhp­a.ii.153). Mùa an cư thứ mười ba được nhập tại Cālikapabbata, nơi Meghiya là thị giả của Đức Phật (AN.iv.354; Ud.iv.1). Năm thứ mười bốn được trải qua tại Sāvatthī, và tại đó Rāhula thọ giới upasampadā.

Vào năm thứ mười lăm, Đức Phật về thăm lại Kapilavatthu, và tại đó nhạc phụ của Ngài, Suppabuddha, trong cơn say rượu, đã cản không cho Đức Phật đi qua đường. Bảy ngày sau, ông bị đất nuốt chửng ngay dưới chân cung điện của mình (Dhp­a.iii.44).

Sự kiện chính của năm thứ mười sáu, năm mà Đức Phật trải qua tại Āḷavī, là việc hóa độ Yakkha Āḷavaka. Vào năm thứ mười bảy, Đức Phật trở lại Sāvatthī, nhưng Ngài lại đến thăm Āḷavī một lần nữa vì lòng thương xót đối với một người nông dân nghèo, người đã trở thành bậc Sotāpanna sau khi nghe Ngài thuyết pháp (Dhp­a.iii.262ff). Ngài trải qua mùa an cư tại Rājagaha. Vào năm tiếp theo, Ngài lại từ Jetavana đến Āḷavī vì con gái của một người thợ dệt nghèo. Cô đã nghe Ngài thuyết pháp ba năm trước đó về sự lợi ích của việc quán niệm về cái chết. Chỉ một mình cô chú tâm đến lời răn dạy của Ngài và, khi Đức Phật biết về cái chết sắp xảy ra của cô, Ngài đã đi chặng đường ba mươi do-tuần để thuyết pháp cho cô và an trú cô vào quả vị Sotāpattiphala (Dhp­a.iii.170ff).

Mùa an cư của năm này và cả năm thứ mười chín đều được trải qua tại Cālikapabbata. Vào năm thứ hai mươi đã diễn ra sự hóa độ kỳ diệu đối với tên cướp Aṅgulimāla. Ông trở thành một vị Arahant và viên tịch không lâu sau đó. Cũng trong năm đó Ānanda được chỉ định làm thị giả thường trực cho Đức Phật, một vị trí mà ông giữ cho đến cuối cuộc đời của Đức Phật, hai mươi lăm năm sau đó (để biết chi tiết, xem Ānanda). Mùa an cư thứ hai mươi được trải qua tại Rājagaha.

Với kiến thức hiện tại của chúng ta, không thể xây dựng bất kỳ loại niên đại nào cho hai mươi lăm năm còn lại trong cuộc đời của Đức Phật. Các Bản chú giải nói rằng những năm đó được trải qua tại Sāvatthī trong các tu viện Jetavana và Pubbārāma (vd, Bv­a.3; Snp­a. p.336f, nói rằng khi Đức Phật ở Sāvatthī, Ngài trải qua ban ngày tại Migāramātupāsāda trong Pubbārāma, và ban đêm tại Jetavana hoặc ngược lại).

Điều này, có lẽ, chỉ ngụ ý rằng các mùa an cư được nhập tại đó và nơi đó đã trở thành trung tâm của Đức Phật. Từ đó, trong mùa khô, Ngài đi du hành mỗi năm qua nhiều vùng khác nhau. Trong số những nơi Ngài đã đến thăm trong các chuyến đi này có những nơi sau đây:

Aggāḷavacetiya, Anotatta, Andhakavinda, Ambapālivana, Ambalaṭṭhikā, Ambasaṇḍā, Assapura, Āpaṇa, Icchānaṅgala, Ukkaṭṭhā (Subhagavana), Ukkācelā, Ugganagara, Ujuññā (vườn nai Kaṇṇakatthaka), UttaraKoḷiya, Uttarakā, Uttarakuru, Uruvelakappa, Uḷumpa, Ekanāḷā, Opasāda, Kakkarapatta, Kajaṅgalā (Mukheluvana), Kammāsadhamma, Kalandakanivāpa (gần Benares), Kimbilā, Kīṭāgiri, Kuṇḍadhānavana (gần Kuṇḍakoli), Kesaputta, Koṭigāma, Kosambī (GhositārāmaBadarikārāma), Khānumata, Khomadussa, Gosiṅgasālavana, Candalakappa, Campā (Gaggarā), Cātuma, Cetiyagiri ở Vesālī, Jīvakambavana (ở Rājagaha), Tapodārāma, Tindukkhānu (tu viện của các du sĩ ngoại đạo), Todeyya, Thullakoṭṭhita, Dakkhiṇāgiri, Daṇḍakappa, Devadaha, Desaka ở xứ Sumbha, Nagaraka, Nagaravinda, Nādikā (Giñjakāvasatha), Nālandā (vườn xoài Pāvārika), Nāḷakapāna (Palāsavana), Paṅkadhā, Pañcasālā, Pāṭikārāma, Beluva, cõi Brahma, Bhaddavatī, Bhaddiya (Jātiyāvana), Bhaganagara (Ānandacetiya), Maṇinālakacetiya, Manasākaṭa, Mātulā, Mithilā (vườn xoài Makhādeva), Medatalumpa, Moranivāpa, ẩn thất của Rammaka, Latthivana, Videha, Vedhañña­ambavana, Venāgapura, Verañjā, Veḷudvāra, Vesālī (cũng như nhiều điện thờ khác ở đó, Udenacetiya, Gotamacetiya, Cāpalacetiya, Bahuputtakacetiya, Sattambacetiya, Sārandadacetiya), Sakkara, Sajjanela, Saḷalāgāraka ở Sāvatthī, Sāketa (Añjanavana), Sāmagāma, Sālavatikā, Sālā, Siṁsapāvana, Silāvatī, Sītavana, Sūkarakhatalena, Setavyā, Hatthigāma, Halidavassana và khu vực Himālaya.

Có một bản tường thuật ít nhiều liên tục về năm cuối cùng trong cuộc đời của Đức Phật. Bản tường thuật này nằm trong ba bài kinh (Suttas): kinh Mahā Parinibbāna, kinh Mahā Sudassana và kinh Janavasabha. Đây không phải là những bài kinh riêng biệt mà có liên hệ mật thiết với nhau. Sự kiện duy nhất diễn ra trước các sự việc được kể lại trong những bài kinh này, mà có thể được xác định với bất kỳ sự chắc chắn nào, là cái chết của người bảo trợ và ủng hộ ngoan đạo của Đức Phật, Bimbisāra, việc này xảy ra tám năm trước khi Đức Phật nhập Parinibbāna (Mhv.ii.32). Chính vào thời điểm này, Devadatta đã cố gắng giành cho mình một vị trí tối cao trong Tăng đoàn, và khi thất bại trong nỗ lực này, ông đã trở thành kẻ thù công khai của Đức Phật. Ý muốn tước đoạt vị trí lãnh đạo Tăng đoàn của Đức Phật của Devadatta dường như đã được ông ấp ủ, theo bản tường thuật của Vinaya (Vin.ii.184), gần như ngay lập tức sau khi ông gia nhập Tăng đoàn, và Đức Phật đã được thiên tử (Devaputta) Kakudha cảnh báo về điều này. Bản tường thuật này làm rõ cho nhận định đặc biệt có trong các sách phương Bắc, rằng ngay cả trong đời sống tại gia, Devadatta luôn là đối thủ của Gotama.

Tranh thủ sự ủng hộ của Ajātasattu, ông đã cố gắng bằng nhiều cách để giết Đức Phật. Các cung thủ hoàng gia đã được mua chuộc để bắn Đức Phật, nhưng họ đã bị thu phục bởi nhân cách của Ngài và đã thú nhận ý định của mình. Sau đó, Devadatta đã lăn một tảng đá lớn xuống từ đỉnh Gijjhakūṭa nhắm vào Đức Phật khi Ngài đang đi bộ dưới bóng râm của ngọn đồi; tảng đá lăn xuống đã bị chặn lại bởi hai mỏm đá, nhưng các mảnh vỡ đã văng trúng chân Đức Phật và làm chảy máu; Ngài bị đau đớn dữ dội và phải được đưa đến khu vườn Maddakucchi, nơi các vết thương của Ngài được y sĩ Jīvaka băng bó (SN.i.27). Các tỳ-kheo muốn cử người bảo vệ, nhưng Đức Phật nhắc họ rằng không ai có khả năng tước đoạt mạng sống của một vị Tathāgata.

Tiếp đó, Devadatta mua chuộc những người quản tượng hoàng gia để xả một con voi dữ, Nālāgiri, đang say rượu cọ, thả ra trên con đường mà Đức Phật sẽ đi qua khi đi khất thực. Đức Phật đã được cảnh báo về điều này nhưng Ngài đã phớt lờ lời cảnh báo, và khi con voi xuất hiện, Ānanda, bất chấp lệnh cấm nghiêm ngặt của Đức Phật, đã lao ra cản đường nó, và chỉ bằng việc sử dụng thần thông (iddhi), bao gồm cả việc thu hẹp mặt đất lại, Đức Phật mới có thể tiến lên phía trước tôn giả. Khi con voi đến gần, Đức Phật đã cất lời với nó, lan tỏa nó bằng lòng từ bi vô lượng của Ngài, cho đến khi nó trở nên hoàn toàn ngoan ngoãn (sự kiện này, với vô vàn chi tiết phong phú, được kể lại ở một số nơi – ví dụ, trong Ja.v.333ff).

Khi những nỗ lực gây ra cái chết của Đức Phật này đã thất bại, Devadatta, cùng với ba người khác, quyết định tạo ra một sự chia rẽ trong Tăng đoàn và thỉnh cầu Đức Phật ban hành năm quy tắc, theo đó các tỳ-kheo sẽ bị bắt buộc phải sống một cuộc sống khổ hạnh hơn nhiều so với trước đây. Khi thỉnh cầu này bị từ chối, Devadatta đã thuyết phục năm trăm tỳ-kheo mới thọ giới rời khỏi Vesālī cùng ông và đến cư trú tại Gayāsīsa, nơi ông sẽ thành lập một tổ chức tương tự như của Đức Phật. Nhưng, theo yêu cầu của Đức Phật, Sāriputta và Moggallāna đã đến thăm các tỳ-kheo phản nghịch; Sāriputta đã thuyết pháp cho họ và họ đã được thuyết phục để quay trở lại. Khi Devadatta phát hiện ra điều này, ông nôn ra máu nóng và nằm ốm liệt giường trong chín tháng. Khi sắp đến lúc qua đời, ông muốn gặp Đức Phật, nhưng ông đã chết trên đường đến Jetavana – nơi mà ông đang được chở đến bằng kiệu – và tái sinh vào địa ngục Avīci.

Từ Gijjhakūṭa, gần Rājagaha, Đức Phật bắt đầu chuyến hành trình cuối cùng của mình. Ngay trước khi khởi hành, ngài được Vassakāra đến thăm, và cuộc trò chuyện nói về những người Vajjians; Đức Phật thuyết pháp cho Vassakāra và các tỳ-kheo về những điều kiện dẫn đến sự hưng thịnh. Đức Phật cùng với một hội chúng tỳ-kheo lớn đi đến Ambalaṭṭhikā và từ đó đến Nālandā, nơi Sāriputta cất tiếng rống sư tử (sīhanāda) về niềm tin của vị này đối với Đức Phật. Sau đó Đức Phật đi đến Pāṭaligāma, nơi ngài nói chuyện với dân làng về những hậu quả tai hại của sự ác giới và những lợi ích của sự trì giới. Ngài đưa ra một lời tiên tri về sự vĩ đại trong tương lai của Pāṭaliputta và sau đó, rời đi bằng cửa Gotamadvāra, ngài vượt sông Ganges tại Gotamatittha. Ngài đi đến Koṭigāma và từ đó đến Ñātika, nơi ngài trao cho Ānanda công thức của Dhammādāsa, qua đó có thể xác định được sự tái sinh của các đệ tử. Từ Ñātika ngài đi đến Vesālī, trú tại khu vườn của kỹ nữ Ambapālī. Ngày hôm sau ngài nhận bữa ăn từ Ambapālī, từ chối lời mời tương tự từ những người Licchavīs; Ambapālī dâng cúng khu vườn của cô cho Đức Phật và chư tỳ-kheo. Đức Phật tiếp tục cuộc hành trình đến Beluva, nơi ngài trải qua mùa an cư, các tỳ-kheo của ngài ở lại Vesālī. Tại Beluva ngài lâm bệnh hiểm nghèo nhưng, với quyết tâm to lớn, ngài chống lại căn bệnh của mình. Ngài nói với Ānanda rằng sứ mạng của ngài đã hoàn thành, rằng khi ngài qua đời Tăng đoàn phải tự duy trì, chỉ lấy Pháp làm nơi nương tựa, và ngài kết luận bằng cách giảng thuyết bốn đề mục niệm xứ (DN.ii.100). Ngày hôm sau ngài đi khất thực ở Vesālī và, cùng với Ānanda, đến thăm Cāpālacetiya. Tại đó ngài cho Ānanda cơ hội thỉnh cầu ngài sống cho đến hết kappa, nhưng Ānanda không nắm bắt được hàm ý đó. Ngay sau đó Māra đến thăm Đức Phật và có được sự đảm bảo rằng Nibbāna của Đức Phật sẽ diễn ra trong ba tháng nữa. Một trận động đất xảy ra, và, để trả lời các câu hỏi của Ānanda, Đức Phật giải thích cho vị này tám nguyên nhân của các trận động đất. Tiếp theo đó là các danh sách về tám hội chúng, tám giai đoạn tự chủ và tám giai đoạn giải thoát. Sau đó Đức Phật lặp lại cho Ānanda cuộc trò chuyện của ngài với Māra, và Ānanda lúc này mới thỉnh cầu Đức Phật kéo dài tuổi thọ của ngài, nhưng được cho biết rằng bây giờ đã quá muộn; vị này đã có vài cơ hội, nhưng đã không tận dụng được. Các tỳ-kheo được tập hợp lại ở Vesālī, trong giảng đường, và Đức Phật khuyên họ thực hành những giáo lý ngài đã dạy, để phạm hạnh có thể tồn tại lâu dài. Sau đó ngài thông báo về sự viên tịch sắp tới của mình.

Theo các Chú giải (ví dụ: DN­a.ii.549), sau mùa an cư trải qua ở Beluva, Đức Phật trở lại Jetavana, nơi ngài được Sāriputta đến thăm, vị này đang chuẩn bị cho Parinibbāna của chính mình tại Nālakagāma. Từ Jetavana Đức Phật đi đến Rājagaha, nơi Mahā Moggallāna viên tịch. Từ đó ngài đi đến Ukkācelā, nơi ngài nói lời ca ngợi hai vị đệ tử tối thắng. Từ Ukkācelā ngài đi đến Vesālī và từ đó đến Bhaṇḍagāma. Rāhula cũng viên tịch trước Đức Phật (DN­a.ii.549).

Ngày hôm sau, khi rời khỏi Vesālī, ngài nhìn quanh thành phố lần cuối và tiếp tục đến Bhaṇḍagāma; tại đó ngài thuyết pháp về bốn điều mà sự liễu tri chúng sẽ tiêu diệt sự tái sinh – đức hạnh cao thượng, sự chuyên cần trong thiền định, trí tuệ và sự giải thoát.

Sau đó, Ngài đi qua các ngôi làng Hatthigāma, AmbagāmaJambugāma, và lưu trú tại Bhoganagara ở Ānandacetiya. Tại đây, Ngài giảng cho các tỳ-kheo về Bốn Đại Giáo Pháp (Mahā Padesā), dựa vào đó để xác định giáo pháp chân thực (Tham chiếu AN.ii.167ff). Từ Bhoganagara, Đức Phật đi đến Pāvā và lưu trú trong vườn xoài của thợ rèn Cunda. Cunda dâng lên Ngài một bữa ăn có món sūkaramaddava. (Có nhiều tranh luận xung quanh từ này. Xem Thomas: Life and Legend of the Buddha, 149, n.3). Chỉ một mình Đức Phật dùng món sūkaramaddava, phần còn lại được đem chôn. Đây là bữa ăn cuối cùng của Đức Phật; một cơn bạo bệnh khởi lên trong Ngài, kèm theo xuất huyết và những cơn đau dữ dội, chí mạng, nhưng Đức Phật đã nhiếp phục chúng và lên đường đi đến Kusinārā. Trên đường đi, Ngài phải ngồi nghỉ dưới gốc một cái cây. Ānanda múc nước cho Ngài uống từ dòng suối Kakuṭṭhā, nơi năm trăm cỗ xe vừa đi qua; nhưng nhờ oai lực của Đức Phật, nước lại vô cùng trong trẻo. Tại đây, Pukkusa, người Malla, đến yết kiến Đức Phật, ông được cải đạo và dâng lên Đức Phật một đôi y màu vàng. Đức Phật đắp y vào và Ānanda chú ý thấy sự sáng chói và trong trẻo diệu kỳ của kim thân Đức Phật. Đức Phật nói với tôn giả rằng thân của một vị Phật mang sắc mạo này vào đêm trước khi Giác ngộ và vào đêm Ngài viên tịch, và rằng đêm đó Ngài sẽ viên tịch tại Kusinārā. Ngài đi đến dòng Kakuṭṭhā, tắm, uống nước tại đó và nghỉ ngơi trong một vườn xoài. Tại đó, Ngài căn dặn Ānanda rằng phải thực hiện các bước để xua tan bất kỳ sự hối hận nào mà Cunda có thể cảm thấy về bữa ăn ông đã dâng lên Đức Phật.

Từ dòng Kakuṭṭhā, Đức Phật vượt qua sông Hiraññavatī để đến rừng cây sāla Upavattana ở Kusinārā. Tại đó, Ānanda chuẩn bị cho Ngài một chỗ nằm với đầu hướng về phía bắc. Tất cả cây cối đồng loạt trổ hoa và hoa rơi phủ kín kim thân Đức Phật. Những đóa hoa mandārava cõi trời và bột trầm hương từ trên trời rơi xuống, cùng với tiếng nhạc và tiếng hát cõi trời vang vọng trong không trung. Nhưng Đức Phật nói rằng sự tôn kính lớn lao hơn đối với Ngài chính là việc thực hành theo những giáo pháp của Ngài.

Chư thiên của mười ngàn thế giới hệ tụ hội về để đảnh lễ Đức Phật lần cuối, và Upavāṇa, người đang đứng quạt cho Ngài, được yêu cầu tránh sang một bên vì tôn giả che khuất tầm nhìn của họ.

Ānanda xin lời chỉ dạy về một số điểm, bao gồm cả cách cử hành tang lễ; sau đó tôn giả đi ra ngoài và buông mình vào một trận khóc lóc; Đức Phật cho người gọi tôn giả vào, an ủi tôn giả và nói lời tán thán tôn giả. Ānanda cố gắng thuyết phục Đức Phật đừng viên tịch ở một ngôi làng đắp bùn trát vách như Kusinārā, nhưng Đức Phật nói cho tôn giả biết nơi đây từng là Mahā Sammata hùng mạnh, kinh đô của Mahā Sudassana.

Những người Mallas ở Kusināra được thông báo rằng Đức Phật sẽ viên tịch vào canh ba của đêm hôm đó, và họ cùng gia đình đến để đảnh lễ. Vị ẩn sĩ Subhadda đến yết kiến Đức Phật và bị Ānanda từ chối cho vào, nhưng Đức Phật tình cờ nghe được, đã gọi ông vào và hóa độ ông. Một số quy định kỷ luật nhỏ được ban hành, bao gồm cả lệnh tẩn xuất đối với Channa. Cuối cùng, Đức Phật yêu cầu các tỳ-kheo đang tụ hội nói ra bất kỳ sự hoài nghi nào mà họ có thể có. Tất cả đều im lặng và Ānanda bày tỏ sự kinh ngạc của mình, nhưng Đức Phật nói với tôn giả rằng việc các tỳ-kheo không có sự hoài nghi nào là điều tự nhiên. Sau đó, nói lời với các tỳ-kheo lần cuối, Ngài khuyên nhủ họ bằng những lời này: “Sự hoại diệt là bản chất của tất cả các pháp hữu vi; hãy thành tựu sự giải thoát của các vị với sự không phóng dật.” Đây là những lời cuối cùng của Đức Phật. Đi tới đi lui qua các tầng jhāna khác nhau, Ngài nhập Parinibbāna. Một trận động đất lớn và sấm sét kinh hoàng xảy ra, và Brahma Sahampati, Sakka, vua của chư thiên, Anuruddha cùng Ānanda nói lên các bài kệ, mỗi vị nói lên cảm xúc mãnh liệt nhất trong tâm trí mình. Lúc này là ngày trăng tròn của tháng Visākha và Đức Phật đang ở độ tuổi tám mươi.

Hôm sau, Ānanda báo tin Đức Phật viên tịch cho những người Mallas ở Kusinārā, và trong bảy ngày họ tổ chức một lễ cúng dường lớn. Vào ngày thứ bảy, theo chỉ dẫn của Ānanda, họ chuẩn bị thi hài để hỏa táng, rước đi thành đoàn qua cổng phía đông đến điện thờ Makuṭabandhana, do đó thay đổi lộ trình dự định của họ, nhằm đáp ứng mong ước của chư thiên, như được truyền đạt tới họ bởi Anuruddha. Cả thị trấn bị bao phủ ngập đến đầu gối bằng những bông hoa mandārava, rơi xuống từ trên trời. Tuy nhiên, khi bốn người thủ lĩnh Mallas cố gắng châm lửa giàn thiêu, nỗ lực của họ không thành công và họ phải đợi cho đến khi Mahā Kassapa, đi cùng với một hội chúng gồm năm trăm vị tỳ-kheo, đã đảnh lễ giàn thiêu. Các Chú giải (vd: DN­a.ii.603) nói thêm rằng Mahā Kassapa vô cùng mong muốn đôi bàn chân của Đức Phật sẽ đặt lên đầu ông khi ông đảnh lễ giàn thiêu. Mong ước đã được đáp ứng: đôi bàn chân hiện ra xuyên qua giàn thiêu, và khi Kassapa đã đảnh lễ, giàn thiêu khép lại với nhau. Giàn thiêu cháy rụi hoàn toàn, không để lại tro than hay bồ hóng. Những dòng nước trút xuống từ trên trời để dập tắt nó và những người Mallas rót nước thơm lên đó. Sau đó họ đặt một hàng rào giáo mác xung quanh và tiếp tục các lễ cúng dường của họ trong bảy ngày. Vào cuối thời kỳ đó, xuất hiện một số người đến thỉnh cầu xá-lợi của Đức Phật: Ajātasattu, những người Licchavīs ở Vesālī, những người Sākiyans ở Kapilavatthu, những người Bulis ở Allakappa, những người Koḷiyas ở Rāmagāma, một vị Bà-la-môn ở Veṭhadīpa và những người Mallas ở Pāvā. Nhưng vì những người Mallas ở Kusinārā từ chối chia sẻ xá-lợi với những người khác, nên có nguy cơ xảy ra chiến tranh. Khi đó Bà-la-môn Doṇa khuyên giải hòa thuận và chia xá-lợi thành tám phần bằng nhau cho tám bên thỉnh cầu. Doṇa tự lấy cho mình chiếc bình lường và những người Moriyas ở Pipphalivana, những người đến muộn, mang đi phần tro. Các bảo tháp (Thūpas) đã được xây dựng trên những phần di hài này và các lễ hội được tổ chức để tôn vinh Đức Phật.

Đoạn kết của Mahā Parinibbānasutta (DN.ii.167) tuyên bố rằng xá-lợi của Đức Phật có tám phần, bảy phần trong số đó được tôn thờ ở Jambudīpa và phần còn lại ở cõi Nāga tại Rāmagāma. Một chiếc răng ở trên trời, một chiếc ở Gandhāra, chiếc thứ ba ở Kāliṅga (sau này được mang đến Tích Lan), và chiếc thứ tư ở thế giới Nāga. Phần của Ajātasattu được đặt trong một bảo tháp (Thūpa) và bị lãng quên. Nó sau này được khám phá bởi Asoka (với sự giúp đỡ của Sakka) và được phân phát cho tám mươi tư ngàn tu viện của ông. Asoka cũng ghi nhận việc tìm thấy tất cả các xá-lợi khác ngoại trừ những phần được đặt ở Rāmagāma. Những xá-lợi này sau đó được đặt trong Mahā Cetiya tại Anurādhapura (Mhv.xxxi.17ff). Các xá-lợi khác cũng được đề cập đến, chẳng hạn như xương đòn của Đức Phật, bình bát của ngài, v.v. (Mhv.xvii.9ff; Mhv.i.37, v.v.).

Người ta nói rằng (vd: DN­a.iii.899) ngay trước khi Sāsana của Đức Phật biến mất hoàn toàn khỏi thế gian, tất cả xá-lợi sẽ tập hợp lại tại Mahā Cetiya, và đi từ đó đến Nāgadīpa và Ratanacetiya, hội tụ tại Mahā Bodhi, cùng với các xá-lợi từ những nơi khác. Tại đó chúng sẽ tái tạo lại thân sắc vàng của Đức Phật, tỏa ra hào quang sáu màu. Thân này sau đó sẽ bốc cháy và biến mất hoàn toàn, giữa những tiếng than khóc của mười ngàn hệ thống thế giới.

Người Miến Điện cho rằng Đức Phật đã đến thăm vùng đất của họ và đi đến Lohitacandanavihāra, được cúng dường bởi hai anh em Mahā PuṇṇaCūḷa Puṇṇa ở Vānijagāma (Ind.An.xxii., và Sās.36f.).

Các Biên niên sử Tích Lan ghi lại rằng Đức Phật đã đến thăm Hòn đảo này vào ba dịp khác nhau (Mhv.i.12ff; Dpv.i.45ff; ii.1ff v.v.).

Lần đầu tiên là khi ngài đang trú tại Uruvelā, chờ thời điểm để hóa độ cho các Tebhātikajaṭilas, vào tháng thứ chín sau khi đạt Giác ngộ, vào ngày trăng tròn của tháng Phussa (tháng 12–1). Ngài đến khu vườn Mahā Nāga, và đứng trên không trung phía trên một cuộc hội họp của các Yakkhas đang diễn ra. Ngài gieo rắc nỗi kinh hoàng vào tâm trí họ và, theo lời đề nghị của ngài, họ đã rời Tích Lan và cùng nhau đi đến Giridīpa, ngay gần đó. Đức Phật trao một nắm tóc của ngài cho vị thiên nhân Mahā Sumana của ngọn núi Sumanakūṭa, vị này đã xây một ngôi bảo tháp mà sau này được mở rộng thành Mahiyaṅgaṇa Thūpa. Đức Phật lại đến thăm Tích Lan vào năm thứ năm, vào ngày trăng non của tháng Citta (tháng 3-4), để ngăn chặn một trận chiến sắp xảy ra giữa hai thủ lĩnh Nāga ở Nāgadīpa; những người tham chiến là MahodaraCūḷodara, hai cậu cháu, và nguyên nhân của cuộc tranh cãi là một ngai vàng nạm ngọc. Đức Phật xuất hiện trước họ, cùng với vị thiên nhân Samiddhi Sumana, người mang theo một cây Rājāyatana từ Jetavana, giải quyết ổn thỏa cuộc tranh cãi của họ và nhận được ngai vàng, nguyên nhân của sự rắc rối, như một món quà. Ngài đã để lại cả ngai vàng và cây Rājāyatana để các Nāgas chiêm bái và nhận lời mời từ vua Nāga, Maṇi­akkhika xứ Kalyāṇi, để đến thăm Tích Lan một lần nữa. Ba năm sau, Maṇi­akkhika lặp lại lời mời và Đức Phật đã đến Kalyāṇi cùng năm trăm vị tỳ-kheo, vào ngày thứ hai của tháng Vesākha. Sau khi thuyết pháp cho các Nāgas, ngài đi đến ngọn núi Sumanakūṭa, trên đỉnh núi này ngài đã để lại dấu chân của mình (truyền thuyết kể rằng những dấu chân khác đã được Đức Phật để lại trên bờ sông Nammadā, trên ngọn núi Saccabaddha và ở Yoṇakapura). Sau đó ngài lưu lại tại Dīghavāpī và từ đó đến thăm Mahā Meghavana, nơi ngài đã thánh hóa nhiều địa điểm khác nhau nhờ vào sự hiện diện của mình, và tiếp tục đi đến địa điểm của Silācetiya sau này. Từ đó, ngài trở về Jetavana.

Có rất ít thông tin về con người của Đức Phật. Chúng ta được biết rằng ngài có làn da màu hoàng kim (vd: Vin-a.iii.689), rằng giọng nói của ngài có tám phẩm chất của Brahmassāra (vd: DN.ii.211; MN.ii.166f. Người ta nói rằng trong khi một người bình thường nói một từ, Ānanda có thể nói tám từ; nhưng Đức Phật có thể nói mười sáu từ so với tám từ của Ānanda, MN­a.i.283) – trôi chảy, dễ hiểu, ngọt ngào, rõ tiếng, liên tục, rành mạch, sâu sắc và vang vọng – rằng ngài có một sức hút cá nhân mãnh liệt – ngài được những người chống đối mô tả là có sức quyến rũ (vd: MN.i.269, 275) – rằng ngài có ngoại hình khôi ngô, hoàn hảo cả về nước da lẫn vóc dáng và có phong thái cao quý (vd: MN.ii.167). Ngài có danh tiếng độc nhất vô nhị là một bậc đạo sư và người huấn luyện tâm hồn con người. Ngài được trang bị ba mươi hai tướng tốt của một Mahā Purisa (để biết chi tiết về những tướng này, xem Buddha). Có một truyền thuyết kể rằng Mahā Kassapa, mặc dù thấp hơn một chút, có ngoại hình giống với Đức Phật.

Tuy nhiên, những nỗ lực nhằm đo lường Đức Phật luôn thất bại; hai nỗ lực như vậy thường được nhắc đến – một của một vị Bà-la-môn ở Rājagaha và nỗ lực kia của Rāhu, thủ lĩnh của các Asuras (DN­a.i.284f). Đức Phật có sức mạnh thể chất bằng nhiều triệu con voi (vd: Vibh­a.397), nhưng sức lực của ngài nhanh chóng suy giảm sau bữa ăn cuối cùng và ngài đã phải dừng lại ở hai mươi lăm nơi trong khi di chuyển một quãng đường dài ba gāvutas từ Pāvā đến Kusināra (DN­a.ii.573).

Người ta thường nhắc đến việc Đức Phật yêu thích sự tĩnh lặng và bình yên, và thậm chí cả những ngoại đạo cũng tôn trọng mong muốn này của ngài, họ im bặt các cuộc tranh luận khi ngài đến gần (vd: DN.i.178f; iii.39; ngay cả các đệ tử của ngài cũng có tiếng tăm tương tự, vd: DN.iii.37). Có những ví dụ được đưa ra về việc Đức Phật từ chối cho phép các tỳ-kheo ồn ào sống gần ngài. (vd: MN.i.456; xem thêm MN.ii.122, nơi một vị tỳ-kheo bị người bên cạnh huých vào người vì vị này đã ho khi Đức Phật đang thuyết pháp). Ngài yêu thích sự tĩnh cư và thường dành thời gian dài xa lánh những nơi đông đúc của con người, chỉ cho phép một vị tỳ-kheo mang thức ăn đến cho ngài, vd: SN.v.12, 320; nhưng chính tình yêu đối với sự tĩnh cư này đôi khi lại bị mang ra để chống lại ngài. Bằng cách giao tiếp với ai mà ông ta đạt được sự sáng suốt trong trí tuệ? họ hỏi. Sự thấu suốt của ông ta, họ nói, đã bị hủy hoại bởi thói quen ẩn cư của mình (DN.iii.38).

Theo một ghi chép (AN.i.181), ngài có thói quen dành một phần trong ngày để tĩnh cư, nhưng ngài luôn sẵn sàng gặp gỡ bất cứ ai khẩn thiết mong muốn sự chỉ dẫn tâm linh của ngài (vd: AN.iv.438).

Trong Mahā Govindasutta (DN.ii.222f) Sakka được miêu tả là đã nói ra “tám lời tán thán chân thực” về Đức Phật. Có lẽ những đặc điểm nổi bật nhất của Đức Phật là tình thương vô bờ bến và sự nhiệt tâm giúp đỡ tất cả những ai tìm đến ngài. Lòng yêu thương trẻ em của ngài được thấy trong các câu chuyện như câu chuyện của hai vị Sopāka, của Kumāra Kassapa, của Cūḷa Panthaka và Dabba Mallaputta và cũng như của các sa-di PaṇḍitaSukha. Sự tử tế của ngài đối với loài vật được thể hiện, ví dụ, trong câu chuyện giới thiệu của Macchajātaka và việc ngài can thiệp để giúp đỡ con voi già của Udena, Bhaddavatikā (q.v.). Đức Phật vô cùng tận tụy với các đệ tử và luôn khuyến khích họ bằng mọi cách trong cuộc sống khó khăn của họ. Theragāthā và Therīgāthā đầy ắp những câu chuyện cho thấy ngài đã quan sát, với sự chăm sóc chu đáo, sự thăng tiến và phát triển tâm linh của các đệ tử ngài, thấu hiểu những vấn đề của họ và luôn sẵn sàng can thiệp kịp thời để giúp họ đạt được mục đích của mình. Những sự kiện như những gì được đề cập trong Bhaddālisutta (MN.i.445), phần giới thiệu của Titthajātaka và Kañcakkhandhajātaka, dường như cho thấy ngài đã dành một sự quan tâm cá nhân và bền bỉ đối với tất cả những ai nương tựa ngài. Theo thường lệ không bao giờ thay đổi, ngài chào đón với nụ cười tất cả những ai đến thăm ngài, hỏi han sức khỏe của họ và do đó làm cho họ cảm thấy thoải mái (Vin.i.313). Khi bất cứ ai xin phép để hỏi ngài, ngài không đặt ra bất kỳ điều kiện nào về chủ đề thảo luận. Điều này được gọi là sabbaññupavāraṇa, ví dụ, MN.i.230. Khi chính Đức Phật đặt câu hỏi cho bất kỳ ai đang vấn đáp với ngài, họ không thể giữ im lặng, mà buộc phải trả lời; một Yakkha tên là Vajirapāṇī luôn hiện diện để đe dọa những ai không muốn làm như vậy (ví dụ, MN.i.231).

Đức Phật không quá nóng lòng trong việc thu nạp tín đồ, và khi những người đến thăm ngài tuyên bố họ là những người đi theo ngài, ngài sẽ khuyến khích họ dành thời gian để suy xét vấn đề – ví dụ, trong trường hợp của Acela Kassapa và Upāli gahapati.

Khi ngài đang lưu trú tại một tu viện, ngài thực hiện các chuyến viếng thăm hằng ngày đến khu bệnh xá để nói chuyện với những người trong đó và an ủi họ (xem, ví dụ, Kuṭāgārasālā). Câu chuyện cảm động về Pūtigatatissa cho thấy đôi khi ngài đã tự mình chăm sóc người bệnh, do đó làm gương cho những người đi theo ngài. Để đền đáp cho sự tận tụy của ngài, các đệ tử của ngài rất tôn kính ngài, nhưng ngay cả trong số những người kề cận ngài cũng có một số ít người từ chối vâng lời ngài một cách tuyệt đối – ví dụ, Lāḷudāyī, những người bạn của Assaji và Punabbasuka, nhóm Chabbaggiyas, nhóm Sattarasavaggiyas và những người khác, chưa kể đến Devadatta và những người cộng tác của ông ta.

Đức Phật dường như đã dành một sự quan tâm đặc biệt cho Sāriputta, Ānanda và Mahā Kassapa trong số các tỳ-kheo, và cho Anāthapiṇḍika, Mallikā, Visākhā, Bimbisāra và Pasenadi trong số các cư sĩ. Ngài dường như đã thầm cảm thấy thú vị bởi những phẩm chất rất con người của Pasenadi và bởi việc ông ta không nhận ra được sự vượt trội thực sự của Mallikā, vợ của ông.

Đức Phật luôn tuyên bố rằng ngài là một trong những người hạnh phúc trên thế gian này, rằng ngài hạnh phúc hơn nhiều, ví dụ, so với Bimbisāra (ví dụ, MN.i.94), và ngài vẫn không bị lay chuyển trước sự chống đối hay nhục mạ, ví dụ, trong trường hợp âm mưu có tổ chức của Māgandiyā (Dhp­a.iv.1f.).

Milindapañha (p.134) đề cập đến một vài căn bệnh của Đức Phật: vết thương ở chân của ngài đã được nhắc đến; một lần khi các thể dịch trong cơ thể ngài bị rối loạn, Jīvaka đã cho ngài uống thuốc xổ (Vin.i.279); vào một dịp khác, ngài mắc phải một số vấn đề về dạ dày và được chữa khỏi bằng nước nóng, hoặc, theo một số người, bằng cháo nóng (Vin.i.210f.; Thag.185). Dhammapada Commentary (Dhp­a.iv.232; Thag­a.i.311f) đề cập đến một chứng rối loạn thể dịch khác được chữa khỏi bằng nước nóng xin được từ vị Bà-la-môn Devahita, thông qua Upavāṇa. Các Bản chú giải đề cập rằng vào lúc tuổi già, ngài phải chịu đựng chứng đau lưng dai dẳng, do những khổ hạnh khốc liệt mà ngài đã thực hành trong sáu năm trước khi đạt được Awakening (sự Giác ngộ), và những bữa ăn không phù hợp trong thời kỳ đó là nguyên nhân gây ra chứng khó tiêu kéo dài trong suốt phần đời còn lại của ngài (SN­a.i.200), mà đỉnh điểm là căn bệnh kiết lỵ nghiêm trọng cuối cùng của ngài. MN­a.i.465; DN­a.iii.974; xem thêm DN.iii.209, khi ngài đang thuyết pháp cho những người Mallas ở Pāvā.

Apadāna (Ap.i.299f) chứa một tập kệ gọi là Pubbakammapiloti; những bài kệ này đề cập đến những hành động nhất định do Đức Phật thực hiện trong quá khứ, dẫn đến việc ngài phải chịu nhiều sự khổ sở khác nhau trong lần giáng sinh cuối cùng. Ngài đã từng là một bợm nhậu tên là Munāli và ngài đã mắng chửi Pacceka Buddha Surabhi. Trong một dịp khác ngài là một Bà-la-môn uyên bác, bậc thầy của năm trăm đệ tử. Một ngày nọ, nhìn thấy Pacceka Buddha Isigaṇa, ngài đã nói xấu vị này với các đệ tử của mình, gọi vị này là “kẻ ái dục.” Kết quả của hành động này là việc ngài bị Sundarikā vu khống trong đời này.

Trong một đời khác ngài đã mắng chửi một vị đệ tử của một vị Phật, tên là Nanda; vì điều này ngài đã phải chịu khổ trong địa ngục mười hai ngàn năm và, trong đời sống cuối cùng của ngài, đã bị Ciñcā làm nhục. Một lần, do tham muốn tài sản, ngài đã giết các người anh em cùng cha khác mẹ của mình, bằng cách ném họ xuống một vách đá; kết quả là, Devadatta đã âm mưu giết ngài bằng cách lăn một tảng đá xuống. Một lần, khi còn là một cậu bé, đang chơi đùa trên đường chính, ngài đã nhìn thấy một Pacceka Buddha và ném một hòn đá vào vị này, và kết quả là, ngài bị các cung thủ được Devadatta thuê bắn. Trong một đời khác ngài là một nài voi, và khi nhìn thấy một Pacceka Buddha trên đường, đã lùa voi của mình tới tông vị này; từ đó có cuộc tấn công bởi Nālāgiri. Một lần, khi là một vị vua, ngài đã kết án tử hình bảy mươi người, phần quả báo cho việc này ngài đã gặt hái khi một mảnh gỗ nhọn đâm vào chân ngài. Bởi vì một lần, khi là con của một ngư dân, ngài đã vui thích khi nhìn xem cá bị bắt, ngài đã phải chịu một cơn đau đầu dữ dội khi Viḍūḍabha tàn sát những người Sākiyan. Vào thời kỳ của Phussa Buddha, ngài đã yêu cầu các tỳ-kheo ăn lúa mạch thay vì gạo và, kết quả là, đã phải ăn lúa mạch trong ba tháng tại Verañja (theo Dhammapada Commentary Dhp-a.iii.257, Đức Phật thực sự đã phải chịu đói một ngày tại Pañcasālā, vì không một ai trong cư dân sẵn sàng cúng dường thức ăn cho ngài.) Bởi vì ngài đã từng giết một đô vật, ngài đã phải chịu chứng co rút ở lưng. Một lần, khi là một thầy thuốc, ngài đã gây ra sự khó chịu cho một thương nhân bằng cách cho ông ta xổ, từ đó có căn bệnh kiết lỵ cuối cùng của ngài. Là Jotipāla, ngài đã nói lời chê bai về sự Giác ngộ của Kassapa Buddha, và do đó đã phải dành sáu năm theo nhiều con đường khác nhau trước khi trở thành Đức Phật. Ngài là một trong những vị Phật có tuổi thọ ngắn nhất, nhưng bởi vì sáu năm đó, Sāsana của ngài sẽ kéo dài lâu hơn (Vin-a.i.190f).

Đức Phật thường được các đệ tử của mình xưng hô là Bhagavā. Ngài tự xưng mình là Tathāgata, trong khi những người không phải Phật tử gọi ngài là Gotama hay Mahā Samaṇa. Những tên gọi khác được sử dụng là Mahā Muni, Sākyamuni, Jina, Sakka (e.g., Sn.vs.345) và Brahma (Sn.vs.91; Snp-a.ii.418), cũng có Yakkha (q.v.).

Aṅguttaranikāya (AN.i.23ff) đưa ra một danh sách các đệ tử xuất sắc nhất của Đức Phật, cả trong số các thành viên của Tăng đoàn và trong hàng cư sĩ. Mỗi người trong danh sách được nhắc đến là sở hữu sự xuất chúng trong một phương diện cụ thể nào đó.

Trong số những vị đã đến viếng Đức Phật để đàm luận hoặc vấn đạo, hoặc trực tiếp nhận được sự chỉ dẫn và giáo huấn từ Ngài, có thể bao gồm những vị sau đây ngoài những người đã được đề cập (danh sách này không mang tính chất đầy đủ; một số tên đã được nhắc đến trong chuyên khảo này ở nhiều ngữ cảnh khác nhau): Aṅkura, Aggidatta, Acela Kassapa, Ajātasattu, Ajita Paribbājaka, tướng quân Licchavī Ajita, Attadattha, Anitthigandhakumāra, Anurādha, Anuruddha, Annabhāra, Abhayarājakumāra, Abhayā, Abhiñjaka, Abhibhūta, Abhirūpanandā, Ambaṭṭha, tỳ-kheo Ariṭṭha, ngư phủ Ariya, Asama, Asibandhaputta, Assaji, Assalāyana, Ākoṭaka, Āmagandha, các Yakkha Āḷavaka và Indaka, Ugga của Vesālī, đại thần Ugga, Uggatasarīra, Uggaha, Ujjaya, Uṇṇābha, Uttara Devaputta, long vương Uttara, Uttara (đệ tử của Pārasariya), Uttiya, các Bà-la-môn UdayaUdāyī, Uttara (đệ tử của Brahmāyu), Uttarā (con gái của Puṇṇa), tỳ-kheo-ni lớn tuổi Uttarā, Upavāṇa, Upasāḷha, Upasena, Upāli gahapati, Ubbirī, Eraka, Esakārī, Kakudha, Kandaraka, ngư phủ Kapila, Kappa, Kappaṭakura, Kalārakkhattiya, Kassapa Deva, Kāṇa, Kāṇamātā, Kātiyāna, Kāpaṭhika, Kāmada, Kāraṇapāli, những người Kālāma, Kāḷigodhā, Kimbila, Kisā Gotami, thợ săn Kukkuṭamitta, Kuṇḍadhāna, Kuṇḍaliya, Kulla, Kūṭadanta, Keniya người Jaṭila, Kevaḍḍha, người luyện ngựa Kesi, Kokanadā, hai cô con gái của Pajjuna, Kokālika, Khadiravaniya Revata, Khānu Koṇḍañña, Khema Deva, Khemā, Gaṇaka Moggallāna, Gavampati, Guttā, Trưởng lão Gotama, Caṅkī, Candana, Candābha, Candimā (Candimasa), Citta Hatthisāriputta, Cunda, Cunda Samaṇuddesa, Cundī, Cūḷa Dhanuggaha, Cūḷa Subhaddā, Chattapāṇī, Janapadakalyāṇī Nandā, Janavasabha, Jantu, Jambuka, Jambukhādaka, Jāṇussoṇī, Jāliya, Jīvaka Komārabhacca, Jenta, Jotika gahapati, Tāyana, Tālapuṭa, Tikaṇṇa, Timbaruka, Tissa (em họ của Đức Phật), Tissa (bạn của Metteyya), Tissa của Roruva, Tudu Brahmā, Thullatissa, Daṇḍapāṇī, Dāmalī, Dāsaka, Dīgha Deva, Dīghajānu, Dīghatapassī, Dīghanakha, Dīghalaṭṭhi, Dīghāvu, Dummukha, Doṇa, Dhammadinna, Dhammārāma, Dhammika-upāsaka, Bà-la-môn Dhammika, Trưởng lão Nanda, người chăn bò Nanda, Nandana, Nandiya Paribbājaka, Nandiya người Sākiyan, Nandivisāla, Nāgita, Nālakatāpasa, Nālijaṅgha, Nigamavāsitissa, Nigrodha, Niṅka, Nīta, Nhātakamunī, Paccanīkasāta, Pañcasikha, Pañcālacaṇḍa, Paṭācārā, Pasenadi (vua nước Kosala), Pahārāda Asura, Pāṭaliya, Pārāpariya, Piṅgala Koccha, Piṅgiyānī, Pilindavaccha, Pilotika, Puṇṇa, Puṇṇa Koḷiyaputta, Puṇṇa Mantānīputta, Puṇṇā, Puṇṇiya, người luyện voi Pessa, Pokkharasāti, Poṭṭhapāda, Poṭhila, Poṭaliya, Phagguna, Baka Brahmā, Bahuputtikā, Bāvarī và mười sáu đệ tử của ông, Bāhiya Dārucīriya, Bāhuna, Biḷālapādaka, Belaṭṭhakāni, Bojjhā, Brahmāyu, Bhagu, Bhaggava, Bhadda, Bhaddā Kuṇḍakakesī, Bhaddāli, Bhaddiya người Licchavī, vài vị Bhāradvāja (Akkosaka Bhāradvāja, Aggika Bhāradvāja, Asurinda Bhāradvāja, Ahiṁsaka Bhāradvāja, Kāsi Bhāradvāja, Jaṭā Bhāradvāja, Navakammika Bhāradvāja, Bilaṅgika Bhāradvāja, Suddhika Bhāradvāja, Sundarika Bhāradvāja), Bhāradvāja (chồng của Dhanañjāni), Bhāradvāja (bạn của Vāseṭṭha), Bhuñjati, Bhumiya, thợ cạo Bhesika, Macchari Kosiya, Maṇibhadda, Maṇḍissa, Mahā Kappina, Mahā Kassapa, Mahā Koṭṭhita, Mahā Cunda, Mahā Dhana, Mahā Nāma, Mahā Moggallāna, Mahāli (Oṭṭhaddha), hai người Māgandiya – một Bà-la-môn và một paribbājaka, Māgha, Māṇavagāmiya, Mānatthaddha, Mātuposaka, Māluṅkyaputta, Migajāla, Migasira, Meṇḍaka của Bhaddiya, Moliya Phagguna, Moliya Sīvaka, Yasoja, Raṭṭhapāla, Rādha, Rāhula, Rāsiya, Rūpānandā, Roja người Malla, Rohiṇī, Rohitassa, Lakuṇṭaka Bhaddiya, thiên nữ Lājā, Lomasakaṅgiya, Lohicca, Vakkali, Vaṅgīsa, Vajjiyamāhita, Vaḍḍha người Licchavī, Vaḍḍhamāna, Vappa, Varadhara, Vassakāra, Vāraṇa, Vāseṭṭha-upāsaka, Vāseṭṭha (bạn của Bhāradvāja), Visākha Pañcālaputta, Visākhā, Vīrā, Vekhanasa, Veṇḍu, Vatambari, Sakuludāyi, Sakka, Saṅkicca, hai vị Saṅgārava, Saṅgharakkhita (Bhāgineyya Saṅgharakkhita), Saccaka, Sajjha, chư thiên Satullapa, Sanaṅkumāra, Santati, Sandha, Sandhāna, Samiddhi, Sarabha, Sarabhaṅga, Sātāgira, Sātāli, Sāti, Sānu, Sikhā Moggallāna, Sigāla, Sirimā, Siva, Sīvali, tướng quân Sīha, Sukhā, Suciloma, Sujātā (con dâu của Anāthapiṇḍika), Sudatta, Sunakkhatta, Sunīta, Sundara Samudda, Sundarīnandā, người bệnh cùi Suppabuddha, Suppavāsā, Subha Todeyyaputta, hai tỳ-kheo-ni tên là Subhā, Subhūti, sa-di Sumana, Sumanā (em gái của Pasenadi), Subrahmā, Surādha, Suriya, Susīma, Seniya, Seri, Sela, Soṇa Kuṭikaṇṇa, Soṇa Koḷivisa, Soṇadaṇḍa, Soṇā, hai người Sopāka, Hatthaka Āḷavaka, Hatthaka DevaputtaHemavata.

Xem thêm Buddha và Bodhisatta.

12. Gotamā draft

Gotamā. Mother of Candakumāra and chief queen of the king of Benares (Ja.vi.134). She is identified with Mahā Māyā (Ja.vi.157). She is sometimes also called Gotamī, e.g., Ja.vi.148, 151.

Gotamā. Mẹ của Candakumāra và là chánh hậu của vua xứ Benares (Ja.vi.134). Bà được xem là đồng nhất với Mahā Māyā (Ja.vi.157). Đôi khi bà cũng được gọi là Gotamī, ví dụ: Ja.vi.148, 151.