Kumāra Kassapa draft

01. Kumāra Kassapa 01 draft

Kumāra Kassapa 01. A Thera He was foremost among those who had the gift of varied and versatile discourse (cittakathikānaṁ) (AN.i.24). His mother was the daughter of a banker of Rājagaha, and she, having failed to obtain her parent’s consent to become a nun, married and, with her husband’s consent, joined the Saṅgha, not knowing that she was with child. When her condition was discovered her colleagues consulted Devadatta, who declared that she was no true nun. Gotama Buddha, on being consulted, entrusted the matter to Upāli, who had it fully investigated by Visākhā and other residents of Sāvatthī, and he gave his finding in the assembly, in the presence of the king, that the nun was innocent. (For details see Ja.i.148; Upāli’s handling of the case won the Buddha’s special commendation, see, e.g., AN­a.i.172). When the boy was born the king reared him, and the boy was ordained at the age of seven. The boy came to be called Kumāra, because he joined the Saṅgha so young and was of royal upbringing, and also because the Buddha, when sending him little delicacies such as fruit, referred to him as Kumāra Kassapa. Once when Kumāra Kassapa was meditating in Andhavana, an Anāgāmī Brahma, who had been his companion in the time of Kassapa Buddha, appeared before him, and asked him fifteen questions which only the Buddha could answer. This led to the preaching of the Vammikasutta (MN.i.143ff), and after dwelling on its teachings Kassapa became an Arahant. (For Kumāra Kassapa’s story see Ja.i.147ff; AN­a.i.158f; Thag­a.i.322f; MN­a.i.335f). His mother, too, developed insight and attained to Arahant-ship. It is said that she wept for twelve years because she could not be with Kassapa, and one day, seeing him in the street, as she ran towards him and fell, milk flowed from her breasts and wet her robe. Kassapa, realising that her great love was standing in the way of her attainments, spoke harshly to her that she might love him the less. The ruse succeeded and she became an Arahant that very day (Dhp­a.iii.147).

In the time of Padumuttara Buddha Kassapa was a learned Brahmin, and having heard a monk ranked foremost in eloquence, he wished for a similar distinction and did many acts of piety towards that end. When the teachings of Kassapa Buddha were being forgotten, he, together with six others, entered the Saṅgha and lived a life of rigorous asceticism on the summit of a mountain. (Ap.ii.473f; the details of this story are given in Dhp­a.ii.210-12; among Kassapa’s companions were also Pukkusāti, Dārucīriya, Dabba Mallaputta and Sabhiya; see also Ud­a.80f).

Two verses of deep significance ascribed to Kumāra Kassapa are found in the Theragāthā (vv.201.202). Although it is said that he was a very eloquent speaker, the examples given of his preaching are extremely scanty. The Aṅguttara Commentary (i.159) states that the Buddha gave him his title from the skilful way in which he argued with Pāyāsi, as related in the Pāyāsisutta; but this cannot be correct for, according to Dhammapāla (Vv-a.297), the events of the Pāyāsisutta took place after the Buddha’s death. The Sutta, however, does justify Kassapa’s reputation. (For his praises see also MN­a.i.500f).

Kassapa’s upasampadā took place in his twentieth year. A doubt arose as to whether this was valid because, according to the rule, twenty years must be completed for upasampadā. The Buddha held that in reckoning the age the time spent in the mother’s womb could also be included. Vin.i.93; Vin-a.iv.867.

Một vị Trưởng lão. Ông là người đứng đầu trong số những người có khả năng thuyết pháp đa dạng và linh hoạt (cittakathikānaṁ) (AN.i.24). Mẹ ông là con gái của một trưởng giả ở Rājagaha, và vì bà không nhận được sự đồng ý của cha mẹ để trở thành một vị tỳ-kheo-ni, bà đã kết hôn và, với sự đồng ý của chồng, gia nhập Tăng đoàn mà không biết rằng mình đang mang thai. Khi tình trạng của bà bị phát hiện, các đồng đạo của bà đã tham khảo ý kiến của Devadatta, người đã tuyên bố rằng bà không phải là một vị tỳ-kheo-ni chân chính. Gotama Buddha, khi được tham khảo ý kiến, đã giao phó vấn đề này cho Upāli, người đã nhờ Visākhā và những cư dân khác của Sāvatthī điều tra đầy đủ vấn đề, và ông đã đưa ra kết luận của mình trong hội chúng, trước sự có mặt của nhà vua, rằng vị tỳ-kheo-ni đó vô tội. (Để biết chi tiết xem Ja.i.148; việc Upāli xử lý vụ việc đã giành được lời khen ngợi đặc biệt của Đức Phật, xem, ví dụ, AN­a.i.172). Khi đứa trẻ ra đời, nhà vua đã nuôi dưỡng nó, và cậu bé đã được xuất gia khi mới lên bảy tuổi. Cậu bé được gọi là Kumāra, bởi vì cậu gia nhập Tăng đoàn khi còn quá trẻ và được nuôi dưỡng trong hoàng gia, và cũng bởi vì Đức Phật, khi gửi cho cậu những món ngon nhỏ như trái cây, đã gọi cậu là Kumāra Kassapa. Một lần khi Kumāra Kassapa đang thiền định trong Andhavana, một vị Phạm thiên Anāgāmī, người từng là bạn đồng tu của ông vào thời Đức Phật Kassapa, đã xuất hiện trước mặt ông và hỏi ông mười lăm câu hỏi mà chỉ Đức Phật mới có thể trả lời. Điều này dẫn đến việc thuyết giảng Vammikasutta (MN.i.143ff), và sau khi chiêm nghiệm về những giáo lý của nó, Kassapa đã trở thành một vị Arahant. (Về câu chuyện của Kumāra Kassapa xem Ja.i.147ff; AN­a.i.158f; Thag­a.i.322f; MN­a.i.335f). Mẹ của ông cũng phát triển tuệ giác và đắc quả vị Arahant. Có người nói rằng bà đã khóc suốt mười hai năm vì không được ở bên Kassapa, và một ngày nọ, khi nhìn thấy ông trên đường, khi bà chạy về phía ông và vấp ngã, sữa đã chảy ra từ ngực bà và làm ướt tấm y của bà. Kassapa, nhận ra rằng tình yêu vĩ đại của bà đang cản trở những sự chứng đắc của bà, đã nói lời cay nghiệt với bà để bà có thể bớt yêu ông hơn. Mưu kế đó đã thành công và bà đã trở thành một vị Arahant ngay trong ngày hôm đó (Dhp­a.iii.147).

Vào thời Đức Phật Padumuttara, Kassapa là một Bà-la-môn uyên bác, và khi nghe thấy một vị tỳ-kheo được xếp hạng cao nhất về sự lưu loát, ông đã mong muốn có được một sự vinh danh tương tự và đã làm nhiều hành động đạo đức vì mục đích đó. Khi những giáo lý của Đức Phật Kassapa đang bị lãng quên, ông, cùng với sáu người khác, đã gia nhập Tăng đoàn và sống một cuộc sống khổ hạnh nghiêm ngặt trên đỉnh một ngọn núi. (Ap.ii.473f; các chi tiết của câu chuyện này được đưa ra trong Dhp­a.ii.210-12; trong số những người bạn đồng tu của Kassapa còn có Pukkusāti, Dārucīriya, Dabba MallaputtaSabhiya; xem thêm Ud­a.80f).

Hai câu kệ mang ý nghĩa sâu sắc được cho là của Kumāra Kassapa được tìm thấy trong Theragāthā (cc.201.202). Mặc dù người ta nói rằng ông là một người nói rất lưu loát, những ví dụ đưa ra về bài thuyết pháp của ông lại cực kỳ khan hiếm. Aṅguttara Commentary (i.159) nói rằng Đức Phật đã ban cho ông tước hiệu của ông từ cách tranh luận khéo léo của ông với Pāyāsi, như được kể lại trong Pāyāsisutta; nhưng điều này không thể đúng vì, theo Dhammapāla (Vv-a.297), những sự kiện của Pāyāsisutta đã diễn ra sau khi Đức Phật nhập diệt. Tuy nhiên, Sutta này lại biện minh cho danh tiếng của Kassapa. (Về những lời khen ngợi dành cho ông xem thêm MN­a.i.500f).

Lễ upasampadā của Kassapa diễn ra vào năm ông hai mươi tuổi. Một sự hoài nghi nảy sinh về việc liệu điều này có hợp lệ hay không bởi vì, theo luật, phải hoàn thành hai mươi tuổi thì mới được upasampadā. Đức Phật giữ quan điểm rằng trong việc tính tuổi, khoảng thời gian ở trong bụng mẹ cũng có thể được tính vào. Vin.i.93; Vin-a.iv.867.

02. Kumāra Kassapa 02 draft

Kumāra Kassapa 02. A Thera in Ceylon, at whose request was written the Dhammapada Commentary Dhp­a.i.1; Gv.68.

Một vị Trưởng lão ở Tích Lan, theo yêu cầu của ông, Dhammapada Commentary đã được viết ra. Dhp­a.i.1; Gv.68.