Andhavana draft
Andhavana. A grove to the south of Sāvatthī, one gāvuta away from the city. It was well guarded and monks and nuns used to resort there in search of solitude. During the time of Kassapa Buddha, thieves waylaid an Anāgāmī upāsaka in this forest; his name was Sorata (Yasodhara, according to the Saṁyutta Commentary), and he had been touring Jambudīpa collecting money for the Buddha’s cetiya. They gouged out his eyes and killed him. Thereupon the robbers all lost their sight and wandered about the forest blind; hence the name of the forest (“Blind,” usually, but wrongly, translated “Dark”). It had retained its name during two Buddha-periods. The story is given in MNa.i.336ff. and SNa.i.148.
There was a Meditation Hall (padhānaghara) built there for the use of contemplative monks and nuns (MNa.i.338). Stories are told of those, particularly the nuns, who were tempted by Māra in the Andhavana, e.g., Āḷavikā, Somā, Kisā Gotamī, Vijayā, Uppalavaṇṇā, Cālā, Upacālā, Sisūpacālā, Selā, Vajirā; Ja.i.128ff. and Thīga.64, 66, 163.
Once when Anuruddha was staying there he became seriously sick (SN.v.302). It was here that the Buddha preached to Rāhula the discourse (Cūḷa Rāhulovāda) hearing which he became an Arahant (SN.iv.105-7; ANa.i.145).
Among others who lived here from time to time are mentioned the Elders Khema, Soma (AN.iii.358), and Sāriputta (AN.v.9), the last-mentioned experiencing a special kind of samādhi (where he realised that bhavanirodha was Nibbāna).
The Theragātha Commentary (i.39) records a discussion here between Sāriputta and Puṇṇa regarding purification (visuddhikamma). The Vammikāsutta (MN.i.143ff) was the result of questions put by an anāgami Brahma, his erstwhile colleague, to Kumāra Kassapa, while he was in Andhavana.
Once bandits laid an ambush for Pasenadi as he went through the forest to pay his respects to the Buddha, attended by a small escort, as was sometimes his wont. He was warned in time and had the wood surrounded, capturing and impaling or crucifying the bandits on either side of the road through the wood. We are told that though the Buddha knew of this, he did not chide the king because he had certain reasons for not doing so (see SNa.i.131-2. Mrs. Rhys Davids doubts the authenticity of this story; KS.i.127n.)
The Therī Uppalavaṇṇā was raped in a hut in the forest by a young Brahmin named Ānanda, and it is said that from that time nuns did not live in Andhavana (Dhpa.ii.49, 52).
The Pārājikā (Vin.iii.28ff) contains stories of monks who committed offences in the forest with shepherdesses and others, and also of some monks who ate the flesh of a cow which had been left behind, partly eaten, by cattle thieves (Vin.iii.64). It was here that Uppalavaṇṇā obtained the piece of cow’s flesh which she asked Udāyī to offer to the Buddha, giving Udāyī her inner robe as “wages” for the job (the story is told in Vin.iii.208-9).
The Pārichattakavimāna (Vv-a.172ff) was the abode which fell to the lot of a woman who having plucked an asoka-flower, while getting firewood in Andhavana, offered it to the Buddha.
The rule forbidding monks to enter a village clad only in their waist cloth and nether garment was made with reference to a monk whose robe had been stolen by thieves in Andhavana (Vin.i.298).
Andhavana. Một khu rừng ở phía nam Sāvatthī, cách thành phố một gāvuta. Nơi này được canh giữ cẩn mật và các vị tăng, Tỳ-kheo-ni thường đến đó để tìm sự độc cư. Vào thời Kassapa Buddha, bọn trộm phục kích một Anāgāmī upāsaka trong khu rừng này; tên ông là Sorata (Yasodhara, theo Chú giải Saṁyutta), và ông đã đi khắp Jambudīpa để quyên góp tiền cho cetiya của Đức Phật. Chúng khoét mắt ông và giết ông. Sau đó tất cả bọn cướp đều mất thị lực và lang thang mù lòa trong rừng; do đó có tên của khu rừng (“Mù,” thường được dịch, nhưng sai, là “Tối”). Tên ấy đã được giữ lại qua hai thời kỳ Đức Phật. Câu chuyện được kể trong MNa.i.336ff. và SNa.i.148.
Tại đó có một Thiền đường (padhānaghara) được xây cho các vị tăng và Tỳ-kheo-ni chuyên tu sử dụng (MNa.i.338). Có những câu chuyện kể về những người, đặc biệt là các Tỳ-kheo-ni, bị Māra cám dỗ trong Andhavana, ví dụ Āḷavikā, Somā, Kisā Gotamī, Vijayā, Uppalavaṇṇā, Cālā, Upacālā, Sisūpacālā, Selā, Vajirā; Ja.i.128ff. và Thīga.64, 66, 163.
Một lần, khi Anuruddha đang trú ở đó, vị ấy bị bệnh nặng (SN.v.302). Chính tại đây Đức Phật đã thuyết cho Rāhula bài kinh (Cūḷa Rāhulovāda), nhờ nghe bài ấy vị ấy trở thành một Arahant (SN.iv.105-7; ANa.i.145).
Trong số những vị khác từng sống ở đây vào những thời điểm khác nhau có nhắc đến các Trưởng lão Khema, Soma (AN.iii.358), và Sāriputta (AN.v.9), vị sau cùng chứng nghiệm một loại samādhi đặc biệt (trong đó vị ấy nhận ra rằng bhavanirodha là Nibbāna).
Chú giải Theragātha (i.39) ghi lại một cuộc thảo luận tại đây giữa Sāriputta và Puṇṇa về sự thanh tịnh (visuddhikamma). Vammikāsutta (MN.i.143ff) là kết quả của những câu hỏi do một anāgami Brahma, người bạn đồng tu trước kia của Kumāra Kassapa, đặt ra cho vị ấy khi vị ấy ở Andhavana.
Một lần bọn cướp mai phục Pasenadi khi ông đi qua khu rừng để đảnh lễ Đức Phật, chỉ có một đoàn hộ tống nhỏ theo hầu, như đôi khi ông vẫn làm. Ông được cảnh báo kịp thời và cho bao vây khu rừng, bắt giữ và đóng cọc hoặc đóng đinh bọn cướp ở hai bên đường xuyên qua khu rừng. Chúng ta được kể rằng mặc dù Đức Phật biết điều này, ngài không quở trách nhà vua vì ngài có những lý do nhất định để không làm như vậy (xem SNa.i.131-2. Mrs. Rhys Davids nghi ngờ tính xác thực của câu chuyện này; KS.i.127n.)
Therī Uppalavaṇṇā bị một thanh niên Bà-la-môn tên Ānanda cưỡng hiếp trong một túp lều trong rừng, và người ta nói rằng từ thời điểm ấy các Tỳ-kheo-ni không sống trong Andhavana nữa (Dhpa.ii.49, 52).
Pārājikā (Vin.iii.28ff) chứa các câu chuyện về những vị tăng phạm tội trong rừng với các cô chăn cừu và những người khác, và cũng về một số vị tăng ăn thịt của một con bò bị bọn trộm gia súc bỏ lại, đã bị ăn dở một phần (Vin.iii.64). Chính tại đây Uppalavaṇṇā lấy được miếng thịt bò mà bà nhờ Udāyī dâng lên Đức Phật, trao cho Udāyī nội y của bà làm “tiền công” cho việc ấy (câu chuyện được kể trong Vin.iii.208-9).
Pārichattakavimāna (Vv-a.172ff) là trú xứ rơi vào phần của một người phụ nữ, người đã hái một bông asoka khi đang kiếm củi trong Andhavana và dâng nó lên Đức Phật.
Điều luật cấm các vị tăng vào làng khi chỉ mặc khố và hạ y được đặt ra liên quan đến một vị tăng có y bị bọn trộm đánh cắp trong Andhavana (Vin.i.298).