Jambudīpa draft

Jambudīpa. One of the four Mahā Dīpas, or great continents, which are included in the Cakkavāḷa and are ruled by a Cakkavatti. They are grouped round Mount Sineru. In Jambudīpa is Himavā with its eighty-four thousand peaks, its lakes, mountain ranges, etc. This continent derives its name from the Jambu-tree (also called Naga) which grows there, its trunk fifteen yojanas in girth, its outspreading branches fifty yojanas in length, its shade one hundred yojanas in extent and its height one hundred yojanas (Vin.i.30; Snp­a.ii.443; Vsm.i.205f; Vin-a.i.119, etc.). On account of this tree, Jambudīpa is also known as Jambusaṇḍa (Snp.vs.552; Snp­a.i.121). The continent is ten thousand yojanas in extent; of these ten thousand, four thousand are covered by the ocean, three thousand by the Himālaya mountains, while three thousand are inhabited by men (Snp­a.ii.437; Ud­a.300).

Sometimes in Jambudīpa there are as many as eighty-four thousand cities; this number is sometimes reduced to sixty thousand, forty thousand, or even twenty thousand, but never to less (Snp­a.i.59; Ja.iv.84 says sixty-three thousand; Pv-a.111). In the time of Asoka there were eighty-four thousand cities, in each of which he built a monastery (Mhv.v.176; Vsm.201). In the Aṅguttaranikāya (i.35) it is said that, in Jambudīpa, trifling in number are the parks, groves, lakes, etc., more numerous the steep, precipitous places, unfordable rivers, inaccessible mountains, etc.

At the time of Metteyya Buddha’s appearance on earth Jambudīpa will be pervaded by mankind even as a jungle is by reeds and rushes. There will be eighty-four thousand cities with Ketumātī (Benares) at the head (DN.iii.75).

The Buddha once declared that the people of Jambudīpa excel those of both Uttarakuru and Tāvatiṁsa in three respects – courage, mindfulness and religious life (AN.iv.396; Kv.99).

Buddhas (and Cakkavattis) are born only in Jambudīpa (Bv­a.48; MN­a.ii.917).

There were four sounds heard throughout Jambudīpa:

  • the shout uttered by Puṇṇaka proclaiming his victory over Dhanañjaya Koravya in a game of dice;
  • the bark of Vissakamma when taken about in the guise of a dog by Sakka, threatening to devour all wicked beings after the decay of Kassapa’s Sāsana;
  • the roar of Kusa, challenging to battle the seven kings who sought the hand of Pabhāvatī;
  • the yell of Āḷavaka, proclaiming his name from the top of Kelāsa, on hearing that the Buddha had visited his abode (SN­a.i.248, etc.).

When opposed to Sīhaladīpa or Tambapaṇṇidīpa, Jambudīpa indicates the continent of India (e.g., Mhv.v.13; xiv.8; Cv.xxxvii.216, 246).

For the purposes of cārikā, the monks divided their tours in Jambudīpa into three circuits or maṇḍalas – the Mahāmaṇḍala which extended over nine hundred leagues, the Majjhimamaṇḍala which extended over six hundred, and the Antimamaṇḍala over three hundred. Those who wish to tour the first, start after the Mahā Pavāraṇa and complete their journey in nine months, for the Majjhimamaṇḍala they start after the Pavāraṇa, on the full-moon day of Kattika, completing the tour in eight months, while for the Antimamaṇḍala they start on the first day of Phussa and return after seven months (Vin-a.i.197).

In each Cakkavāḷa there is a Jambudīpa (AN.i.227). Mention is made in the Kākātijātaka (Ja 327, Ja.iii.91) of a Jambudīpa samudda, beyond which was the river Kebuka.

Jambudīpa. Một trong bốn Mahā Dīpas, hay các đại lục, nằm trong Cakkavāḷa và được cai trị bởi một vị Cakkavatti. Chúng tập hợp xung quanh Núi Sineru. Ở Jambudīpa có Himavā với tám mươi tư ngàn ngọn núi, các hồ nước, các dãy núi, v.v. Lục địa này lấy tên từ cây Jambu (cũng gọi là Naga) mọc ở đó, thân cây có chu vi mười lăm do-tuần (yojana), các cành của nó vươn dài năm mươi do-tuần, bóng râm của nó bao phủ rộng một trăm do-tuần và nó cao một trăm do-tuần (Vin.i.30; Snp­a.ii.443; Vsm.i.205f; Vin-a.i.119, v.v.). Bởi vì cây này, Jambudīpa cũng được biết đến với tên gọi Jambusaṇḍa (Snp.vs.552; Snp­a.i.121). Lục địa này rộng mười ngàn do-tuần; trong số mười ngàn do-tuần này, bốn ngàn do-tuần bị đại dương bao phủ, ba ngàn do-tuần bị các dãy núi Himālaya bao phủ, trong khi ba ngàn do-tuần là nơi loài người sinh sống (Snp­a.ii.437; Ud­a.300).

Đôi khi ở Jambudīpa có đến tám mươi tư ngàn thành phố; con số này thỉnh thoảng giảm xuống sáu mươi ngàn, bốn mươi ngàn, hoặc thậm chí hai mươi ngàn, nhưng không bao giờ ít hơn (Snp­a.i.59; Ja.iv.84 nói sáu mươi ba ngàn; Pv-a.111). Vào thời của Asoka có tám mươi tư ngàn thành phố, ở mỗi thành phố ông đã xây dựng một tu viện (Mhv.v.176; Vsm.201). Trong Aṅguttaranikāya (i.35) có nói rằng, ở Jambudīpa, các công viên, khu rừng, hồ nước, v.v., thì có số lượng ít ỏi, trong khi các nơi dốc đứng, hiểm trở, các con sông không thể lội qua, các ngọn núi không thể tiếp cận, v.v., thì nhiều hơn.

Vào thời điểm Metteyya Buddha xuất hiện trên thế gian, Jambudīpa sẽ được nhân loại phủ kín giống như một khu rừng rậm được phủ kín bởi cỏ lau và sậy. Sẽ có tám mươi tư ngàn thành phố với Ketumātī (Benares) đứng đầu (DN.iii.75).

Đức Phật từng tuyên bố rằng những người dân của Jambudīpa vượt trội hơn những chúng sinh của cả UttarakuruTāvatiṁsa ở ba phương diện – sự can đảm, sự chánh niệm và đời sống tôn giáo (AN.iv.396; Kv.99).

Chư Phật (và các vị Cakkavatti) chỉ sinh ra ở Jambudīpa (Bv­a.48; MN­a.ii.917).

Có bốn âm thanh đã được nghe thấy khắp Jambudīpa:

  • tiếng hét do Puṇṇaka thốt lên tuyên bố chiến thắng của mình trước Dhanañjaya Koravya trong một trò chơi súc sắc;
  • tiếng sủa của Vissakamma khi bị Sakka dẫn đi quanh trong hình dáng một con chó, đe dọa sẽ nuốt chửng tất cả những chúng sinh độc ác sau thời kỳ suy tàn của giáo pháp (Sāsana) của Kassapa;
  • tiếng gầm của Kusa, thách thức giao chiến với bảy vị vua đã đến cầu hôn Pabhāvatī;
  • tiếng thét của Āḷavaka, xưng danh của mình từ đỉnh núi Kelāsa, khi nghe tin Đức Phật đã đến thăm nơi ở của dạ-xoa này (SN­a.i.248, v.v.).

Khi được đặt đối lập với Sīhaladīpa hay Tambapaṇṇidīpa, Jambudīpa chỉ lục địa Ấn Độ (ví dụ, Mhv.v.13; xiv.8; Cv.xxxvii.216, 246).

Vì mục đích du hành (cārikā), các tỳ-kheo đã chia các chuyến đi của mình ở Jambudīpa thành ba vòng hay maṇḍalaMahāmaṇḍala trải dài hơn chín trăm do-tuần, Majjhimamaṇḍala trải dài hơn sáu trăm, và Antimamaṇḍala hơn ba trăm. Những vị nào muốn đi theo vòng thứ nhất, bắt đầu sau lễ Mahā Pavāraṇa và hoàn thành chuyến hành trình của mình trong chín tháng, đối với Majjhimamaṇḍala các vị bắt đầu sau lễ Pavāraṇa, vào ngày trăng tròn của tháng Kattika, hoàn thành chuyến đi trong tám tháng, trong khi đối với Antimamaṇḍala các vị bắt đầu vào ngày đầu tiên của tháng Phussa và trở về sau bảy tháng (Vin-a.i.197).

Trong mỗi Cakkavāḷa đều có một Jambudīpa (AN.i.227). Kākātijātaka (Ja 327, Ja.iii.91) có đề cập đến một đại dương samudda của Jambudīpa, nằm xa hơn con sông Kebuka.