Phussa draft
01. Phussa 01 draft
Phussa 01. Phussa Buddha. The eighteenth of the twenty-four Buddhas. He was born in the Sirimā-uyyāna in Kāsi, his father being the Khattiya Jayasena and his mother Sirimā. ANa.i.144 says that his father was Mahinda and that he had three step-brothers. One of them was Uruvelā Kassapa in this birth (ANa.i.165).
He lived for six thousand years in three palaces: Garuḷa, Haṁsa and Suvaṇṇabhara. His wife was Kisā Gotamī and his son Ānanda (or Anūpama). His body was fifty-eight cubits high. He left the world riding an elephant, and practised austerities for six months. A seṭṭhi’s daughter, Sirivaḍḍhā, gave him milk-rice, while an ascetic, named Sirivaḍḍha, gave him grass for his seat, under an āmanda (or āmalaka) tree. His chief disciples were Sukhita (or Surakkhita) and Dhammasena among men and Cālā (or Sālā) and Upacālā (Upasālā) among women. His personal attendant was Sambhiya. Dhanañjaya and Visākha among men, and Padumā and Nāgā among women, were his chief lay patrons. The Bodhisatta was a Khattiya named Vijitāvī of Arimanda. The Buddha lived for ninety thousand years and died at the Sonārāma (Setārāma) in Kusinārā. His relics were scattered (Bv.xix.1ff.; Bva.192f.; Pv-a.19f). Ambapālī was his sister. Ap.ii. 613.
Phussa 01. Phussa Buddha. Vị Phật thứ mười tám trong số hai mươi bốn vị Phật. Ngài sinh ra tại Sirimā-uyyāna ở Kāsi, cha ngài là Sát-đế-lỵ (Khattiya) Jayasena và mẹ ngài là Sirimā. ANa.i.144 nói rằng cha ngài là Mahinda và ngài có ba người anh em cùng cha khác mẹ. Một trong số họ là Uruvelā Kassapa trong kiếp này (ANa.i.165).
Ngài đã sống sáu ngàn năm trong ba cung điện: Garuḷa, Haṁsa và Suvaṇṇabhara. Vợ ngài là Kisā Gotamī và con trai ngài là Ānanda (hoặc Anūpama). Thân ngài cao năm mươi tám cubit. Ngài xuất gia cưỡi một con voi, và thực hành khổ hạnh trong sáu tháng. Con gái của một trưởng giả (seṭṭhi), Sirivaḍḍhā, đã dâng cúng ngài món cháo sữa, trong khi một đạo sĩ, tên là Sirivaḍḍha, dâng cỏ cho ngài làm chỗ ngồi, dưới gốc một cây āmanda (hoặc āmalaka). Các đệ tử thinh văn hàng đầu của ngài là Sukhita (hoặc Surakkhita) và Dhammasena trong số các nam nhân, cùng Cālā (hoặc Sālā) và Upacālā (Upasālā) trong số các nữ nhân. Thị giả của ngài là Sambhiya. Dhanañjaya và Visākha trong số các nam nhân, cùng Padumā và Nāgā trong số các nữ nhân, là những thí chủ tại gia hàng đầu của ngài. Bodhisatta khi đó là một Sát-đế-lỵ tên là Vijitāvī ở Arimanda. Đức Phật sống được chín mươi ngàn năm và viên tịch tại Sonārāma (Setārāma) ở Kusinārā. Xá-lợi của ngài được phân tán đi nhiều nơi (Bv.xix.1ff.; Bva.192f.; Pv-a.19f). Ambapālī là chị em gái của ngài. Ap.ii. 613.
02. Phussa 02 draft
Phussa 02. Phussa Thera. He was the son of a ruler of a province and was trained in all accomplishments. Having heard a great Thera preach, he left the world and joined the Saṅgha. He practised jhāna and became an Arahant. One day an ascetic named Paṇḍarassagotta heard him preach and questioned him on the future progress of Bhikkhus. Phussa’s reply is contained in the Theragāthā, vs. 949-80; Thaga.ii.82f.
Phussa 02. Phussa Thera. Ngài là con trai của một vị cai trị một tỉnh và được đào tạo đủ mọi tài nghệ. Sau khi nghe một vị Đại Trưởng lão thuyết giảng, ngài đã xuất gia và gia nhập Tăng đoàn. Ngài tu tập jhāna và trở thành một vị Arahant. Một ngày nọ, một đạo sĩ tên là Paṇḍarassagotta nghe ngài thuyết giảng và hỏi ngài về sự tiến bộ trong tương lai của các Tỳ-kheo. Câu trả lời của Phussa được ghi lại trong Theragāthā, vs. 949-80; Thaga.ii.82f.