Ambapālī draft
Ambapālī (Ambapālikā). A courtesan of Vesālī. She is said to have come spontaneously into being at Vesālī in the gardens of the king. The gardener found her at the foot of a mango tree – hence her name – and brought her to the city. She grew up so full of beauty and of grace that many young princes vied with each other for the honour of her hand. Finally, in order to end their strife, they appointed her courtesan. Later she became a devout follower of the Buddha, and building a vihāra in her own garden, gave it to him and the Saṅgha. This was during the Buddha’s last visit to Vesālī shortly before his death. It is said that when Ambapālī heard of the Buddha’s visit to Koṭigāma near Vesālī she and her retinue drove out of the city in magnificent chariots to meet him, and, after hearing a discourse, invited him and the monks to a meal the next day. The Buddha accepted this invitation and had, as a result, to refuse that of the Licchavīs of Vesālī.
While returning from her visit to the Buddha, Ambapālī was so elated at the idea of having the Buddha to a meal the next day, that she refused to make way for the Licchavī princes who were on their way to the Buddha. She refused to give up her invitation for anything in the world. The commentary says that just before Ambapālī’s visit to him, the Buddha admonished the monks to be steadfast and mindful, lest they should lose their heads about her (DNa.ii.545).
It was after this meal that Ambapālī gave over her park, the Ambapālivana, to the Buddha and the Saṅgha. The Buddha accepted the gift and stayed there some time before going on to Beluva. Vin.i.231-3; DN.ii.95-8; the two accounts vary in details, e.g. in the Dīgha version the Buddha was already in Ambapālivana, and not in Koṭigāma, when the courtesan visited him.
Ambapālī had a son, Vimala Koṇḍañña, who was an eminent Elder. Having heard him preach one day, she renounced the world and, working for insight by studying the law of impermanence as illustrated in her own ageing body, she attained Arahant-ship (Thīga.206-7).
Nineteen verses ascribed to her are found in the Therīgāthā (252-70).
In the time of Sikhī Buddha she had entered the Saṅgha. While yet a novice, she took part in a procession of Bhikkhunīs, and were doing homage at a shrine when an Arahant Therī in front of her hastily spat in the court of the shrine. Seeing the spittle and not knowing who had committed the fault, she said in reproof, “What prostitute has been spitting here?” It was owing to this remark that she was born as a courtesan in her last birth (Thīga.206-7).
The Apadāna (quoted also in Thīga) gives some more details about her. She had been a daughter of a Khattiya family in the time of Phussa Buddha and had done many good deeds in order to be beautiful in later births. As a result of the abuse of the nun (referred to above) she had been born in hell and later had, for ten thousand lives, been a courtesan. In Kassapa Buddha’s time she had practised celibacy (Ap.ii.613ff.; Thīga.213f).
It is said that she charged fifty kahāpaṇas a night from her patrons and that Vesālī became very prosperous through her. It was this that prompted Bimbisāra to get a courtesan for his own city of Rājagaha (Vin.i.268).
Among Ambapālī’s patrons was Bimbisāra, and he was the father of her son Vimala Koṇḍañña (Thaga.i.146).
In the Theragāthā (vv.1020-21; Thaga.ii.129) there are two verses which, according to tradition, were spoken by Ānanda in admonition of monks who lost their heads at the sight of Ambapālī. Whether this was before or after she joined the Saṅgha we are not told.
Ambapālī (Ambapālikā). Một kỹ nữ của thành Vesālī. Tương truyền bà đã hóa sanh tại Vesālī trong ngự uyển của vua. Người làm vườn tìm thấy bà dưới gốc một cây xoài – do đó có tên gọi này – và đưa bà vào thành. Bà lớn lên với vẻ đẹp và sự duyên dáng tuyệt trần đến nỗi nhiều vương tử trẻ tuổi đã cạnh tranh nhau để có được vinh dự cưới bà. Cuối cùng, để chấm dứt sự tranh chấp giữa họ, họ đã phong bà làm kỹ nữ. Về sau bà trở thành một đệ tử thuần thành của Đức Phật, xây dựng một tu viện trong chính khu vườn của mình rồi dâng cúng lên Ngài và Tăng đoàn. Sự việc này diễn ra trong chuyến viếng thăm cuối cùng của Đức Phật đến Vesālī, không lâu trước khi Ngài nhập Niết-bàn. Tương truyền rằng khi Ambapālī nghe tin Đức Phật đến thăm Koṭigāma gần Vesālī, bà cùng đoàn tùy tùng đã ra ngoài thành trên những cỗ xe lộng lẫy để gặp Ngài, và sau khi nghe một thời pháp thoại, đã thỉnh mời Ngài cùng chư tăng thọ trai vào ngày hôm sau. Đức Phật đã nhận lời và kết quả là phải từ chối lời mời của người Licchavī ở Vesālī.
Khi trở về sau cuộc gặp với Đức Phật, Ambapālī đã quá phấn khích trước ý nghĩ được cúng dường bữa ăn cho Đức Phật vào ngày hôm sau đến mức bà từ chối nhường đường cho các vương tử Licchavī đang trên đường đến gặp Đức Phật. Bà từ chối nhượng lại lời mời thọ trai của mình với bất cứ giá nào trên đời. Chú giải nói rằng ngay trước khi Ambapālī đến gặp Ngài, Đức Phật đã nhắc nhở các tỳ-kheo phải kiên định và chánh niệm, kẻo họ bị mất tự chủ vì bà (DNa.ii.545).
Chính sau bữa ăn này, Ambapālī đã dâng cúng khu vườn của mình, tức Ambapālivana, lên Đức Phật và Tăng đoàn. Đức Phật đã chấp nhận món quà dâng cúng và ở lại đó một thời gian trước khi tiếp tục đi đến Beluva. Vin.i.231-3; DN.ii.95-8; hai lời kể khác nhau về chi tiết, ví dụ trong phiên bản Dīgha, Đức Phật đã ở tại Ambapālivana, chứ không phải ở Koṭigāma, khi nàng kỹ nữ đến gặp Ngài.
Ambapālī có một người con trai tên là Vimala Koṇḍañña, một vị Trưởng lão kiệt xuất. Sau khi nghe vị này thuyết pháp vào một ngày nọ, bà đã xuất gia, nỗ lực tu tập tuệ quán qua việc quán chiếu quy luật vô thường hiển hiện trên thân thể già nua của chính mình, và đã chứng đắc quả vị Arahant (Thīga.206-7).
Mười chín bài kệ được cho là của bà được tìm thấy trong Therīgāthā (252-70).
Vào thời Đức Phật Sikhī, bà đã gia nhập Tăng đoàn. Khi còn là một sa-di-ni, bà tham gia vào một đoàn diễu hành của các Tỳ-kheo-ni, và đang đảnh lễ trước một tháp thờ thì một vị Trưởng lão ni Arahant đi phía trước bà đã vô ý nhổ nước bọt trên sân tháp. Nhìn thấy bãi nước bọt và không biết ai đã phạm lỗi, bà đã lên tiếng trách móc: "Ả điếm nào đã nhổ nước bọt ở đây?" Chính vì lời nói này mà bà đã phải sinh làm kỹ nữ trong kiếp sống cuối cùng của mình (Thīga.206-7).
Tập Apadāna (cũng được trích dẫn trong Thīga) cung cấp thêm một số chi tiết về bà. Bà từng là con gái của một gia đình Sát-đế-lỵ vào thời Đức Phật Phussa và đã làm nhiều thiện sự để có được dung mạo xinh đẹp trong các kiếp sau. Do hậu quả của việc xúc phạm vị tỳ-kheo-ni (nói trên), bà đã bị đọa vào địa ngục và sau đó phải làm kỹ nữ trong mười ngàn kiếp. Vào thời Đức Phật Kassapa, bà đã giữ gìn phạm hạnh (Ap.ii.613ff.; Thīga.213f).
Tương truyền rằng bà thu phí năm mươi kahāpaṇa một đêm từ những người khách của mình và thành Vesālī đã trở nên rất phồn vinh nhờ có bà. Chính điều này đã thúc đẩy vua Bimbisāra tìm một kỹ nữ cho thành Rājagaha của mình (Vin.i.268).
Trong số những vị khách của Ambapālī có cả vua Bimbisāra, và ông chính là cha của con trai bà, Vimala Koṇḍañña (Thaga.i.146).
Trong Theragāthā (kệ số 1020-21; Thag.ii.129) có hai bài kệ mà theo truyền thuyết, đã được tôn giả Ānanda thuyết giảng để cảnh tỉnh các tỳ-kheo bị mất tự chủ khi nhìn thấy Ambapālī. Lời kể không cho biết điều này xảy ra trước hay sau khi bà gia nhập Tăng đoàn.