Mahinda draft, redirect

01. Mahinda 01 draft

Mahinda 01. Mahā Mahinda. Son of Asoka and brother of Saṅghamittā. He was fourteen at the time of the coronation of his father and was ordained at the age of twenty, his preceptor being Moggaliputtatissa. The ordination was performed by Mahā Deva, while Majjhantika recited the kammavācā. Mahinda became an Arahant on the day of his ordination (Mhv.v.204ff.; Dpv.v.24 f; Vin-a.i.51). He spent three years in study of the Dhamma under his preceptor, and, later, when the latter retired to Ahogaṅgā, he left his one thousand disciples for seven years under the care of Mahinda (Mhv.v.233; Vin-a.i.52). When the Third Council was held, Mahinda had been for twelve years a monk and was charged with the mission of converting Ceylon. But he delayed for six months, until Devānampiyatissa became king. He then went to Dakkhiṇāgiri and from there to his birthplace, Vedisagiri, staying in Vedisagiri vihāra and visiting his mother, the queen Devī. Still one more month he tarried, teaching the Dhamma to Bhaṇḍuka, and then, on the full moon day of Jeṭṭha, at the request of Sakka, he went, in company with Iṭṭhiya, Uttiya, Sambala, Bhaddasāla, Sumana Sāmaṇera and Bhaṇḍuka, to Ceylon, where he converted Devānampiyatissa by preaching to him the Cūḷa Hatthipadopamasutta. Later, on the same day, he preached the Samacittasutta. The next day, at the request of the king, he visited Anurādhapura, travelling through the air and alighting on the site of the (later) Paṭhamacetiya. After a meal at the palace he preached the Petavatthu, the Vimānavatthu and the Saccasaṁyutta, and Anulā and her five hundred companions became Sotāpannas. Later, in the elephant stables, he preached the Devadūtasutta to the assembled people, and, in the evening, the Bālapaṇḍitasutta, in Nandanavana. The night he spent in Mahā Meghavana, and on the next day the king gave the park to Mahinda, on behalf of the Saṅgha.

Mahinda pointed out to the king various spots destined to be connected with the growth of the Sāsana in Ceylon, offering flowers at the same, and at the site of the (later) Mahā Thūpa, he described the visits of the Four Buddhas of this kappa to Ceylon. On the fourth day he preached the Anamataggasutta in Nandanavana and helped the king in defining the boundaries of what later became the Mahā Vihāra. On the fifth day he preached the Khajjanīyasutta, on the sixth the Gomayapiṇḍīsutta, and on the seventh the Dhammacakkappavattanasutta.

The pāsāda first built for the residence of Mahinda was called Kāḷapāsāda pariveṇa. Other buildings associated with him were the Suṇhāta pariveṇa, the Dīghacaṅka pariveṇa, the Phalagga pariveṇa, the Therāpassaya pariveṇa, the Marugaṇa pariveṇa, and the Dīghasandasenāpatipariveṇa.

Twenty-six days Mahinda stayed in Mahā Meghavana, and on the thirteenth day of the bright half of Āsāḷha, after having preached the Mahāppamādasutta, he went to Missakapabbata, to spend the vassa. The king had sixty-eight rock cells built in the mountain and gave them to the Theras on the full moon day. On the same day Mahinda ordained sixty-two monks, who attained Arahant-ship, at Tumbarumālaka. After the full moon day of Kattika, at the conclusion of the pavāraṇa ceremony, Mahinda held a consultation with Devānampiyatissa and sent Sumana Sāmaṇera to Pāṭaliputta to bring the relics of the Buddha from Dhammāsoka and other relics from Sakka. These relics were brought and placed on the Missakapabbata, which from then onwards was called Cetiyagiri. The collar-bone from among the relics was deposited in the Thūpārāma (q.v.), which was built for the purpose. It was at Mahinda’s suggestion that Devānampiyatissa sent an embassy headed by Mahā Ariṭṭha to Asoka, with a request that Saṅghamittā should come to Ceylon with a branch of the Bodhi-tree. The request was granted, and Saṅghamittā arrived in Ceylon with the branch. Devānampiyatissa, during the later part of his reign, acting on the advice of Mahinda, built numerous vihāras, each one yojana from the other; among them were Issarasamaṇaka and Vessagiri.

Mahinda is said to have taught the Commentaries to the Tipiṭaka in the Sinhalese language, after translating them from the Pāli (Cv.xxxvii.228ff).

The Samantapāsādikā mentions a recital held by Mahinda under the presidency of Mahā Ariṭṭha (pp. 102ff).

Mahinda continued to live for the first eight years of the reign of Uttiya, who succeeded Devānampiyatissa. Then, at the age of sixty, he died on the eighth day of the bright half of Assayuja, in Cetiyagiri, where he was spending the rainy season. His body was brought in procession, with every splendor and honour, to the Mahā Vihāra and placed in the Pañhambamālaka, where homage was paid to it for a whole week. It was then burnt on a pyre of fragrant wood on the east of the Therānambandhamālaka, to the left of the site of the Mahā Thūpa. A cetiya was erected on that spot over half the remains, the other half being distributed in Thūpas built on Cetiyagiri and elsewhere. The place of cremation was called Isibhūmaṅgaṇa, and there for many centuries were cremated the remains of holy men who lived within a distance of three yojanas (for details of Mahinda see Mhv.xiii. xx; Dpv.vii.57f., xii., xiii., iv.: xv.; Vin-a.i.61, 69ff., 79ff., 83ff., 90ff., 103, etc.)

Later, King Sirimeghavaṇṇa had a life-size image of Mahinda made of gold; this he took to the Ambatthala cetiya. For eight days a festival was held in its honour; on the ninth day the image was taken from Ambatthala, carried by the king himself at the head of a large and splendid procession, and placed for three days in Sotthiyākara vihāra. On the twelfth day it was taken with all splendours to Anurādhapura, to the Mahā Vihāra, where it was left for three months in the courtyard of the Bodhi-tree. From there it was removed to the inner city and deposited in a magnificent image house to the south-east of the palace. An endowment was set up for the annual performance of ceremonies in honour of the image, and this custom was continued for many centuries. The image was brought from the inner town to the Mahāvihāra on the pavāraṇa day, and every year an offering was made on the thirteenth day (Cv.xxxvii.66ff).

Dhātusena had the image brought to the place where Mahinda’s body was cremated and there held a great festival (Cv.xxxviii.58), while Aggabodhi I. set up the image on the banks of the tank called Mahindataṭa, and ensured that the special task of carrying the image to the dyke of the tank was the task of the Taracchas. Cv.xlii.30.

Mahinda 01. Mahā Mahinda. Con trai của Asoka và là anh trai của Saṅghamittā. Ông đã được mười bốn tuổi vào lúc diễn ra lễ đăng quang của cha ông và đã được thọ giới vào lúc hai mươi tuổi, với vị thầy tế độ của ông là Moggaliputtatissa. Việc truyền giới đã được thực hiện bởi Mahā Deva, trong khi Majjhantika đã tụng đọc kammavācā. Mahinda đã trở thành một vị Arahant vào đúng ngày thọ giới của ngài (Mhv.v.204ff.; Dpv.v.24 f; Vin-a.i.51). Ngài đã dành ra ba năm trong việc nghiên cứu Pháp dưới sự hướng dẫn của vị thầy tế độ của ngài, và, sau đó, khi người thầy này lui về Ahogaṅgā, ngài đã để lại một ngàn người đệ tử của mình trong bảy năm dưới sự chăm sóc của Mahinda (Mhv.v.233; Vin-a.i.52). Khi Kết tập lần thứ Ba được tổ chức, Mahinda đã làm một vị tỳ-kheo được mười hai năm và đã được giao cho sứ mệnh truyền bá Phật giáo đến Tích Lan. Nhưng ngài đã trì hoãn trong sáu tháng, cho đến khi Devānampiyatissa trở thành vua. Sau đó ngài đã đi đến Dakkhiṇāgiri và từ đó đến nơi sinh ra của mình, Vedisagiri, ngụ tại vihāra Vedisagiri và đi thăm viếng người mẹ của mình, hoàng hậu Devī. Ngài vẫn còn nán lại thêm một tháng nữa, để giảng dạy Pháp cho Bhaṇḍuka, và sau đó, vào ngày trăng tròn của tháng Jeṭṭha, theo lời thỉnh cầu của Sakka, ngài đã đi, cùng với đoàn tùy tùng của Iṭṭhiya, Uttiya, Sambala, Bhaddasāla, Sumana Sāmaṇera và Bhaṇḍuka, đến Tích Lan, nơi ngài đã thu phục được Devānampiyatissa bằng việc thuyết giảng cho ông nghe Cūḷa Hatthipadopamasutta. Sau đó, vào cùng ngày hôm đó, ngài đã thuyết giảng Samacittasutta. Ngày hôm sau, theo lời thỉnh cầu của nhà vua, ngài đã viếng thăm Anurādhapura, du hành xuyên qua không trung và đáp xuống trên địa điểm của Paṭhamacetiya (sau này). Sau một bữa ăn tại cung điện ngài đã thuyết giảng Petavatthu, VimānavatthuSaccasaṁyutta, và Anulā cùng với năm trăm người bạn đồng hành của bà đã trở thành những Sotāpanna. Sau đó, trong những chuồng voi, ngài đã thuyết giảng Devadūtasutta cho những người dân đang tụ tập, và, vào buổi tối, Bālapaṇḍitasutta, ở trong Nandanavana. Ngài đã dành cả đêm ở trong Mahā Meghavana, và vào ngày hôm sau nhà vua đã cúng dường công viên cho Mahinda, thay mặt cho Saṅgha.

Mahinda đã chỉ ra cho nhà vua những địa điểm khác nhau được dự định là sẽ được kết nối với sự phát triển của Sāsana ở Tích Lan, dâng cúng những bông hoa tại những nơi giống như vậy, và tại địa điểm của Mahā Thūpa (sau này), ngài đã mô tả về những chuyến viếng thăm của Bốn vị Phật trong kappa này đến Tích Lan. Vào ngày thứ tư ngài đã thuyết giảng Anamataggasutta ở trong Nandanavana và đã giúp đỡ nhà vua trong việc xác định các ranh giới của những gì mà sau này đã trở thành Mahā Vihāra. Vào ngày thứ năm ngài đã thuyết giảng Khajjanīyasutta, vào ngày thứ sáu Gomayapiṇḍīsutta, và vào ngày thứ bảy Dhammacakkappavattanasutta.

Pāsāda đầu tiên được xây dựng để làm nơi cư ngụ cho Mahinda được gọi là pariveṇa Kāḷapāsāda. Những tòa nhà khác có sự liên quan đến ngài là pariveṇa Suṇhāta, pariveṇa Dīghacaṅka, pariveṇa Phalagga, pariveṇa Therāpassaya, pariveṇa Marugaṇa, và Dīghasandasenāpatipariveṇa.

Hai mươi sáu ngày Mahinda đã ngụ tại Mahā Meghavana, và vào ngày thứ mười ba trong nửa sáng của tháng Āsāḷha, sau khi đã thuyết giảng Mahāppamādasutta, ngài đã đi đến Missakapabbata, để trải qua mùa vassa. Nhà vua đã cho người xây dựng sáu mươi tám am thất bằng đá ở trên ngọn núi và đã cúng dường chúng cho các vị Thera vào ngày trăng tròn. Cùng vào ngày hôm đó Mahinda đã truyền giới cho sáu mươi hai vị tỳ-kheo, những người đã đạt được quả vị Arahant, tại Tumbarumālaka. Sau ngày trăng tròn của tháng Kattika, vào phần kết thúc của buổi lễ pavāraṇa, Mahinda đã tổ chức một cuộc tham vấn với Devānampiyatissa và đã cử Sumana Sāmaṇera đến Pāṭaliputta để mang những xá-lợi của Đức Phật về từ Dhammāsoka và những xá-lợi khác từ Sakka. Những xá-lợi này đã được mang đến và được đặt ở trên Missakapabbata, thứ mà kể từ đó trở đi đã được gọi là Cetiyagiri. Xương quai xanh từ trong số các xá-lợi đã được ký gửi vào trong Thūpārāma (xem từ này), thứ đã được xây dựng cho mục đích đó. Chính theo lời gợi ý của Mahinda mà Devānampiyatissa đã cử một phái bộ ngoại giao được dẫn đầu bởi Mahā Ariṭṭha đến gặp Asoka, với một lời thỉnh cầu rằng Saṅghamittā nên đi đến Tích Lan cùng với một nhánh của cây Bodhi. Lời thỉnh cầu này đã được chấp thuận, và Saṅghamittā đã đến Tích Lan với nhánh cây đó. Devānampiyatissa, trong suốt phần sau của triều đại của ông, hành động theo lời khuyên của Mahinda, đã xây dựng vô số vihāra, mỗi một cái cách nhau một yojana; trong số đó có Issarasamaṇaka và Vessagiri.

Mahinda được cho là đã giảng dạy các Bản chú giải cho Tipiṭaka bằng tiếng Sinhala, sau khi biên dịch chúng từ tiếng Pāli (Cv.xxxvii.228ff).

Samantapāsādikā có đề cập đến một cuộc kết tập được tổ chức bởi Mahinda dưới sự chủ trì của Mahā Ariṭṭha (pp. 102ff).

Mahinda tiếp tục sống trong tám năm đầu tiên của triều đại của Uttiya, người kế vị Devānampiyatissa. Sau đó, ở tuổi sáu mươi, ngài đã viên tịch vào ngày thứ tám trong nửa sáng của tháng Assayuja, tại Cetiyagiri, nơi ngài đang trải qua mùa mưa. Thi hài của ngài đã được rước đi trong một đám rước, với tất cả sự lộng lẫy và tôn kính, đến Mahā Vihāra và được đặt ở trong Pañhambamālaka, nơi sự tôn kính đã được dâng lên cho nó trong suốt một tuần lễ. Sau đó nó đã được hỏa táng ở trên một giàn thiêu làm bằng gỗ thơm ở phía đông của Therānambandhamālaka, phía bên trái của địa điểm thuộc về Mahā Thūpa. Một cetiya đã được dựng lên trên chính địa điểm đó để lưu giữ một nửa số di hài, một nửa còn lại được phân phát ở trong các Thūpa được xây dựng trên Cetiyagiri và những nơi khác. Địa điểm của việc hỏa táng được gọi là Isibhūmaṅgaṇa, và ở đó trong nhiều thế kỷ người ta đã hỏa táng những di hài của những vị thánh tăng người đã sinh sống trong phạm vi của khoảng cách ba yojana (để biết chi tiết về Mahinda xin xem Mhv.xiii. xx; Dpv.vii.57f., xii., xiii., iv.: xv.; Vin-a.i.61, 69ff., 79ff., 83ff., 90ff., 103, v.v.)

Sau này, Vua Sirimeghavaṇṇa đã có một bức tượng của Mahinda được làm bằng vàng với kích thước bằng người thật; thứ mà ông đã mang đến cetiya Ambatthala. Trong suốt tám ngày một lễ hội đã được tổ chức để vinh danh cho bức tượng; vào ngày thứ chín bức tượng đã được đưa từ Ambatthala, được rước bởi chính bản thân nhà vua đi ở vị trí dẫn đầu của một đám rước lớn và tráng lệ, và được đặt trong ba ngày tại vihāra Sotthiyākara. Vào ngày thứ mười hai nó đã được mang đi với tất cả những sự lộng lẫy đến Anurādhapura, đến Mahā Vihāra, nơi nó đã được để lại trong ba tháng ở khoảng sân trong của cây Bodhi. Từ đó nó đã được dời đến khu vực nội thành và được ký gửi vào trong một ngôi nhà chứa tượng tráng lệ ở phía đông nam của cung điện. Một khoản quyên tặng đã được thiết lập cho việc thực hiện hàng năm của những buổi lễ nhằm tôn vinh cho bức tượng, và phong tục này đã được tiếp tục trong nhiều thế kỷ. Bức tượng đã được mang từ trong khu vực nội thành đến Mahāvihāra vào ngày pavāraṇa, và mỗi năm một món lễ vật cúng dường đã được dâng lên vào ngày thứ mười ba (Cv.xxxvii.66ff).

Dhātusena đã mang bức tượng đến cái địa điểm nơi mà thi hài của Mahinda đã được hỏa táng và ở đó ông đã tổ chức một lễ hội lớn (Cv.xxxviii.58), trong khi Aggabodhi I. đã thiết lập bức tượng ở trên những bờ của hồ chứa nước được gọi là Mahindataṭa, và đã đảm bảo rằng nhiệm vụ đặc biệt của việc mang bức tượng đến con đê của hồ chứa nước là nhiệm vụ của những người Taraccha. Cv.xlii.30.

02. Mahinda 02 redirect

Mahinda 02. See Indra (= Sakka).

Chưa dịch.

03. Mahinda 03 draft

Mahinda 03. King, father of Phussa Buddha (AN­a.i.165; SN­a.iii.4; Dhp­a.i.84). Elsewhere he is called Jayasena. See Phussa.

Mahinda 03. Vị vua, cha của Phussa Buddha (AN­a.i.165; SN­a.iii.4; Dhp­a.i.84). Ở những nơi khác ông được gọi là Jayasena. Xem Phussa.

04. Mahinda 04 draft

Mahinda 04. A king of old, descendant of Mahā Sammata, and last of a dynasty which ruled at Rojanagara. Twelve of his sons and grandsons ruled in Campā. Dpv.iii.28.

Mahinda 04. Một vị vua từ thời xưa, hậu duệ của Mahā Sammata, và là người cuối cùng của một vương triều đã cai trị tại Rojanagara. Mười hai người con trai và cháu trai của ông đã cai trị ở Campā. Dpv.iii.28.

05. Mahinda 05 draft

Mahinda 05. Mahinda I. Brother of Kassapa III. and king of Ceylon (724-27 CE.). He refused to be crowned, out of sorrow for the death of his friend Nīla, and administered the government as Ādipāda. He thus came to be known as Ādipāda Mahinda. His brother’s son, Aggabodhi, was his viceroy, while his own son was made ruler of Dakkhiṇadesa.

He gave ten cartloads of food to the Mahā Pāli and would eat nothing without first giving of it to beggars. He built a nunnery for the bhikkhunīs (called Mahinda-upassaya) and gave to it the village of Nagaragalla. He also built the Mahindataṭa vihāra. Cv.xiviii.26ff.

Mahinda 05. Mahinda I. Em trai của Kassapa III. và là vua của Tích Lan (724-27 CN). Ông đã từ chối được đăng quang, do bởi nỗi đau buồn vì cái chết của người bạn của mình là Nīla, và đã điều hành việc chính sự như là một Ādipāda. Do đó ông đã được biết đến như là Ādipāda Mahinda. Con trai của người anh trai ông, Aggabodhi, là vị phó vương của ông, trong khi người con trai của chính ông đã được phong làm người cai trị của Dakkhiṇadesa.

Ông đã cúng dường mười xe đồ ăn cho Mahā Pāli và sẽ không ăn bất cứ thứ gì mà không ban phát một phần của nó cho những người ăn xin trước. Ông đã xây dựng một ni viện cho các bhikkhunī (được gọi là Mahinda-upassaya) và đã trao tặng cho nó ngôi làng Nagaragalla. Ông cũng đã xây dựng vihāra Mahindataṭa. Cv.xiviii.26ff.

06. Mahinda 06 draft

Mahinda 06. Son of Aggabodhi VII. He was made viceroy, but died young. Cv.xlviii.69, 75.

Mahinda 06. Con trai của Aggabodhi VII. Ông đã được phong làm phó vương, nhưng đã qua đời khi còn trẻ. Cv.xlviii.69, 75.

07. Mahinda 07 draft

Mahinda 07. Son of Silāmegha (Aggabodhi VI.) (Cv.xlviii.42, 76). Aggabodhi made him senāpati and gave over the government to him. But when Aggabodhi VI. died and Aggabodhi VII. came to the throne, Mahinda went to Mahā Tittha. Later, on the death of Aggabodhi VII., Mahinda quelled all disturbances and put the queen in chains because she conspired to kill him. His cousin Dappula rose against him, but was defeated after much fighting. Mahinda then married the queen of Aggabodhi VI. and became king as Mahinda II., when a son was born to him. Dappula again rose in revolt, but Mahinda made a treaty with him and gave him part of Rohaṇa with the Gāḷhagaṅgā as boundary.

Among Mahinda’s benefactions was the erection of the Dāmavihāra pariveṇa and the Sannīratittha vihāra in Pulatthipura, also the costly Ratanapāsāda, containing a golden image of the Buddha. To the Silāmegha nunnery Mahinda gave a silver Bodhisatta statue. He had the Abhidhamma recited by the monks of Hemasāli vihāra, and built many shrines and helped those who were poor or in trouble. To the lame he gave bulls and to the Damiḷas horses. He strengthened the weir of the Kālavāpi. He reigned for twenty years (772-92 CE.) and was succeeded by his son Udaya I. (Cv.xlviii.83ff).

Mahinda 07. Con trai của Silāmegha (Aggabodhi VI.) (Cv.xlviii.42, 76). Aggabodhi đã phong ông làm tướng quân và trao quyền cai trị chính phủ lại cho ông. Nhưng khi Aggabodhi VI. qua đời và Aggabodhi VII. lên ngôi, Mahinda đã đi đến Mahā Tittha. Sau đó, vào lúc cái chết của Aggabodhi VII., Mahinda đã dập tắt mọi cuộc nổi loạn và tống giam hoàng hậu vì bà đã âm mưu giết ông. Người anh em họ của ông là Dappula đã nổi dậy chống lại ông, nhưng đã bị đánh bại sau nhiều trận chiến. Sau đó Mahinda đã kết hôn với hoàng hậu của Aggabodhi VI. và trở thành vua với danh xưng là Mahinda II., khi một người con trai đã được sinh ra cho ông. Dappula lại nổi dậy một lần nữa, nhưng Mahinda đã lập một hiệp ước với ông ta và trao cho ông ta một phần của Rohaṇa với Gāḷhagaṅgā như là ranh giới.

Trong số những việc làm thiện nguyện của Mahinda có việc xây dựng pariveṇa Dāmavihāravihāra Sannīratittha ở Pulatthipura, cũng như Ratanapāsāda đắt giá, có chứa một bức tượng vàng của Đức Phật. Đối với ni viện Silāmegha thì Mahinda đã trao tặng một bức tượng Bodhisatta bằng bạc. Ông đã yêu cầu các vị tỳ-kheo của vihāra Hemasāli tụng đọc Abhidhamma, và đã xây dựng nhiều điện thờ cũng như giúp đỡ những người nghèo khổ hoặc gặp rắc rối. Đối với những người què quặt thì ông tặng những con bò đực và đối với những người Damiḷa thì là những con ngựa. Ông đã củng cố thêm cho con đập của hồ Kālavāpi. Ông đã cai trị trong hai mươi năm (772-92 CN) và được kế vị bởi con trai của mình là Udaya I. (Cv.xlviii.83ff).

08. Mahinda 08 draft

Mahinda 08. Son of the Ādipāda Dāṭhāsīva of Rohaṇa. He quarreled with his father, took service under Udaya I. and married his daughter Devā. He was later sent to Rohaṇa, where he drove out his father. His two sons revolted against him, and, with Udaya’s help, led an army against him. Mahinda defeated them, but was killed in a fight with another kinsman. Cv.xlix.10ff.; 66ff.

Mahinda 08. Con trai của Ādipāda Dāṭhāsīva của Rohaṇa. Ông đã cãi nhau với cha mình, phục vụ dưới quyền của Udaya I. và kết hôn với con gái của ông ta là Devā. Sau đó ông được cử đến Rohaṇa, nơi ông đã đánh đuổi cha mình. Hai người con trai của ông đã nổi dậy chống lại ông, và, với sự giúp đỡ của Udaya, đã dẫn một đội quân chống lại ông. Mahinda đã đánh bại họ, nhưng đã bị giết chết trong một trận chiến với một người họ hàng khác. Cv.xlix.10ff.; 66ff.

09. Mahinda 09 draft

Mahinda 09. Son of Udaya I.; he was, however, known by the name of Dhammikasilāmegha and was a very pious man. He gave the income from the Geṭṭhumba Canal to be used in repairs of the Ratanapāsāda. He became king as Mahinda III. and reigned for four years (797-801 CE.). Cv.xlix.38ff.

Mahinda 09. Con trai của Udaya I.; tuy nhiên, ông được biết đến bằng tên gọi là Dhammikasilāmegha và là một người đàn ông rất mộ đạo. Ông đã cúng dường doanh thu từ Kênh đào Geṭṭhumba để được sử dụng trong việc sửa chữa Ratanapāsāda. Ông đã trở thành vua với danh xưng là Mahinda III. và cai trị trong bốn năm (797-801 CN). Cv.xlix.38ff.

10. Mahinda 10 draft

Mahinda 10. Son of Mahinda III. When Aggabodhi IX. came to the throne, contrary to the laws of succession, Mahinda fled to India (Cv.xlix.84f). He was afterwards slain by Sena I. (Cv.l.4).

Mahinda 10. Con trai của Mahinda III. Khi Aggabodhi IX. lên ngôi, trái với luật kế vị, Mahinda đã trốn sang Ấn Độ (Cv.xlix.84f). Sau đó ông đã bị giết bởi Sena I. (Cv.l.4).

11. Mahinda 11 draft

Mahinda 11. Younger brother of Sena I. and his viceroy. He quelled the rising of Udaya against the king, his brother. When the Paṇḍu king invaded Ceylon, Mahinda led an army against him, and, on the defeat of his forces, he cut his own throat. Cv.l.6, 10, 21ff.

Mahinda 11. Em trai của Sena I. và là phó vương của ông. Ông đã dập tắt cuộc nổi dậy của Udaya chống lại nhà vua, người anh trai của ông. Khi vị vua của người Paṇḍu xâm lược Tích Lan, Mahinda đã dẫn một đội quân chống lại ông ta, và, trước sự thất bại của các lực lượng của mình, ông đã tự cắt cổ mình. Cv.l.6, 10, 21ff.

12. Mahinda 12 draft

Mahinda 12. Eldest son of Kittaggabodhi, ruler of Rohaṇa. He was killed by Kittaggabodhi’s sister. Cv.l.51.

Mahinda 12. Người con trai lớn nhất của Kittaggabodhi, người cai trị của Rohaṇa. Ông đã bị giết bởi người em gái của Kittaggabodhi. Cv.l.51.

13. Mahinda 13 draft

Mahinda 13. Son of the Ādipāda Kassapa and brother of Sena II. He married Tissā and Kittī. He became viceroy under Sena II. and ruled in Dakkhiṇadesa. Later he was discovered guilty of an intrigue in the king’s harem, and fled, unrecognized, with his family, to Malaya. Afterwards, however, he regained his honors and continued as viceroy, his daughter Saṅghā being married to Kassapa, son of Sena II. Mahinda built a temple under the Bodhi-tree, and, in the course of its construction, a workman discovered that one of the beams would harm a branch of the tree. Mahinda, on being informed of this, came and made a saccakiriyā, as a result of which the branch of the tree straightened itself during the night, leaving the building free. Mahinda also built the Mahindasena pariveṇa, and died in the twenty-third year of Sena’s reign (Cv.l.59; li.7, 13, 15ff., 53ff). Ādipāda Kittaggabodhi was his son. Cv.l.94.

Mahinda 13. Con trai của Ādipāda Kassapa và là anh em trai của Sena II. Ông đã kết hôn với TissāKittī. Ông đã trở thành phó vương dưới quyền của Sena II. và cai trị ở Dakkhiṇadesa. Sau đó ông đã bị phát hiện là có tội về một âm mưu ở trong hậu cung của nhà vua, và đã bỏ trốn, không được ai nhận ra, cùng với gia đình mình, đến Malaya. Tuy nhiên, sau đó ông đã giành lại được những tước vị danh dự của mình và tiếp tục làm phó vương, con gái của ông là Saṅghā được gả cho Kassapa, con trai của Sena II. Mahinda đã xây dựng một ngôi đền dưới cây Bodhi, và, trong quá trình xây dựng của nó, một người thợ đã phát hiện ra rằng một trong những cái dầm nhà sẽ làm tổn hại đến một nhánh của cái cây. Mahinda, khi được báo cáo về điều này, đã đến và thực hiện một saccakiriyā, mà như là một kết quả của nó thì nhánh của cái cây đã tự duỗi thẳng ra trong đêm, để cho tòa nhà được tự do. Mahinda cũng đã xây dựng pariveṇa Mahindasena, và đã qua đời vào năm thứ hai mươi ba trong triều đại của Sena (Cv.l.59; li.7, 13, 15ff., 53ff). Ādipāda Kittaggabodhi là con trai của ông. Cv.l.94.

14. Mahinda 14 draft

Mahinda 14. Son of Kassapa V., and brother of Sena II. and Saṅghā. When the Ādipāda Kittaggabodhi raised a rebellion in Rohaṇa against Udaya II., the latter sent Mahinda to quell it with the help of the general Vajiragga. The expedition was completely successful and Kittaggabodhi taken prisoner. Mahinda stayed in Mahā Gāma and ruled over Rohaṇa justly and well. Among his works was the construction of a dam across the Mahā Nadī (Cv.li.99ff). When Kassapa IV. became king, Mahinda revolted against him, but the king, through the influence of Mahinda’s father, persuaded him to desist. Later, Mahinda returned to Anurādhapura at the request of the monks, and, after having married the king’s daughter, went back to Rohaṇa, where, evidently, he died. Cv.lii.4ff.

Mahinda 14. Con trai của Kassapa V., và là anh em trai của Sena II. và Saṅghā. Khi Ādipāda Kittaggabodhi khởi xướng một cuộc nổi loạn ở Rohaṇa chống lại Udaya II., người sau đã cử Mahinda đến để dập tắt nó với sự giúp đỡ của vị tổng tư lệnh Vajiragga. Cuộc viễn chinh đã hoàn toàn thành công và Kittaggabodhi đã bị bắt làm tù binh. Mahinda đã ở lại Mahā Gāma và cai trị toàn bộ Rohaṇa một cách công bằng và tốt đẹp. Trong số những công trình của ông có việc xây dựng một con đập vắt ngang qua Mahā Nadī (Cv.li.99ff). Khi Kassapa IV. trở thành vua, Mahinda đã nổi loạn chống lại ông, nhưng nhà vua, thông qua sự ảnh hưởng của người cha của Mahinda, đã thuyết phục ông từ bỏ. Sau đó, Mahinda đã quay trở lại Anurādhapura theo yêu cầu của các vị tỳ-kheo, và, sau khi kết hôn với con gái của nhà vua, đã quay trở lại Rohaṇa, nơi mà, hiển nhiên, ông đã qua đời. Cv.lii.4ff.

15. Mahinda 15 draft

Mahinda 15. Viceroy of Sena IV. and probably his brother. He afterwards became king as Mahinda IV. (956-72 CE.). He married a Kāliṅga princess. During his reign, the Vallabha king invaded Ceylon, but was defeated by the general Sena and entered into a treaty with Mahinda. Mahinda showed great favour to the Paṁsukūlikas and the Lābhavāsīs and decreed that the incomes derived from vihāras should not be taxed. His good acts were many. He had a Commentary to the Abhidhamma written by the Thera Dhammamitta in the Sitthagāma pariveṇa and the Abhidhamma recited by the Thera Dāṭhā Nāga. He made great offerings at the Mahā Thūpa and started to build the Candanapāsāda, where he had preserved the Hair Relic of the Buddha. He restored the temple of the four cetiyas in Padalañchana as well as the Temple of the Tooth, the Dhammasangaṇigeha and the Mahā Pāli. He built the Mahā Mallaka for the Theravāda nuns and completed the Maṇipāsāda. Mahinda’s wife was Kittī (q.n), who, herself, engaged in various works. Their son was Sena (Sena V.). Cv.liv.1ff.; Cv.Trs.i.178, n.2; 179, n.2; 183, n.2.

Mahinda 15. Phó vương của Sena IV. và có lẽ là anh em trai của ông ta. Sau đó ông đã trở thành vua với danh xưng là Mahinda IV. (956-72 CN). Ông đã kết hôn với một nàng công chúa Kāliṅga. Trong suốt triều đại của ông, vua của Vallabha đã xâm lược Tích Lan, nhưng đã bị đánh bại bởi vị tướng tên là Sena và đã tiến tới một hiệp ước với Mahinda. Mahinda đã thể hiện sự ân sủng to lớn đối với những Paṁsukūlika và những Lābhavāsī và đã ra sắc lệnh rằng những khoản thu nhập có được từ các vihāra không nên bị đánh thuế. Những hành động thiện lành của ông là rất nhiều. Ông đã cho viết một Bản chú giải cho Abhidhamma bởi Thera Dhammamitta ở trong pariveṇa Sitthagāma và Abhidhamma được tụng đọc bởi Thera Dāṭhā Nāga. Ông đã dâng cúng những món lễ vật lớn tại Mahā Thūpa và đã bắt đầu xây dựng Candanapāsāda, nơi ông đã bảo quản Xá-lợi Tóc của Đức Phật. Ông đã khôi phục lại ngôi đền của bốn cetiyaPadalañchana cũng như Ngôi đền của Răng, DhammasangaṇigehaMahā Pāli. Ông đã xây dựng Mahā Mallaka cho các ni sư Theravāda và đã hoàn thành Maṇipāsāda. Vợ của Mahinda là Kittī (xem từ này), người mà, bản thân bà, đã tham gia vào nhiều công việc khác nhau. Con trai của họ là Sena (Sena V.). Cv.liv.1ff.; Cv.Trs.i.178, n.2; 179, n.2; 183, n.2.

16. Mahinda 16 draft

Mahinda 16. Younger brother of Sena V. He succeeded Sena as Mahinda V. and ruled for ten years at Anurādhapura under great difficulties. He was weak and powerless, and the Keraḷa soldiers in his employ mutinied for better salaries. Mahinda escaped to Rohaṇa by means of an underground passage, and lived at Sīdupabbatagāma with his brother’s wife as queen, later marrying his brother’s daughter. Their son was Kassapa, and afterwards they lived in Kappagallaka. In the thirty-sixth year of Mahinda’s reign, the Coḷas, taking advantage of the discontent in Ceylon, invaded the country, capturing the king, the queen, and all the royal regalia. They ruled for many years with Pulatthinagara as base, and Mahinda died in Coḷa after a captivity lasting for twelve years (Cv.iv.1ff). Lokitā and Devalā were his maternal cousins. Cv.lvii.27.

Mahinda 16. Em trai của Sena V. Ông đã kế vị Sena với danh xưng là Mahinda V. và đã cai trị trong mười năm tại Anurādhapura dưới những khó khăn to lớn. Ông yếu đuối và bất lực, và những người lính Keraḷa đang làm việc cho ông đã nổi loạn để đòi hỏi mức lương cao hơn. Mahinda đã trốn thoát đến Rohaṇa bằng một lối đi ngầm, và sống tại Sīdupabbatagāma với người vợ của anh trai mình như là hoàng hậu, sau đó thì kết hôn với con gái của anh trai mình. Con trai của họ là Kassapa, và sau đó họ đã sống ở Kappagallaka. Vào năm thứ ba mươi sáu trong triều đại của Mahinda, những người Coḷa, tận dụng sự bất mãn ở Tích Lan, đã xâm lược đất nước, bắt giữ nhà vua, hoàng hậu, và tất cả những vương quyền hoàng gia. Họ đã cai trị trong nhiều năm với Pulatthinagara như là căn cứ, và Mahinda đã qua đời ở Coḷa sau một thời gian bị giam cầm kéo dài trong mười hai năm (Cv.iv.1ff). LokitāDevalā là những người chị em họ ngoại của ông. Cv.lvii.27.

17. Mahinda 17 draft

Mahinda 17. Son of Moggallāna and Lokitā and brother of Kitti (afterwards Vijayabāhu I.). Cv.lvii.42.

Mahinda 17. Con trai của MoggallānaLokitā và là anh em trai của Kitti (sau này là Vijayabāhu I.). Cv.lvii.42.

18. Mahinda 18 draft

Mahinda 18. Son of Vikkamabāhu II. and brother of Gajabāhu. He fought against Deva, general of Parakkamabāhu I. at Hedillakhaṇḍagāma, but was defeated, and fled to Billagāma. From there he went to Vallitittha, and was again defeated. Later he joined Māṇābharaṇa, and was sent by him to Moravāpi, thence to Anurādhapura, where he defeated Mahā Lekharakkha and Bhaṇḍārapotthakī, who marched against him. From Anurādhapura, Mahinda proceeded to Kālavāpi where, for three months, he fought against Bhaṇḍārapotthakī Bhūta, and was finally defeated by him. This is the last we hear of him. Cv.lxii.59; lxxii.46, 82, 123ff., 176ff., 191f., 198ff.

Mahinda 18. Con trai của Vikkamabāhu II. và là anh em trai của Gajabāhu. Ông đã chiến đấu chống lại Deva, vị tướng của Parakkamabāhu I. tại Hedillakhaṇḍagāma, nhưng đã bị đánh bại, và đã chạy trốn đến Billagāma. Từ đó ông đi đến Vallitittha, và lại một lần nữa bị đánh bại. Sau đó ông đã gia nhập với Māṇābharaṇa, và được ông ta cử đến Moravāpi, từ đó đến Anurādhapura, nơi ông đã đánh bại Mahā Lekharakkha và Bhaṇḍārapotthakī, những người đã hành quân chống lại ông. Từ Anurādhapura, Mahinda đã tiến đến Kālavāpi nơi mà, trong ba tháng, ông đã chiến đấu chống lại Bhaṇḍārapotthakī Bhūta, và cuối cùng đã bị đánh bại bởi ông ta. Đây là lần cuối cùng chúng ta nghe nói về ông. Cv.lxii.59; lxxii.46, 82, 123ff., 176ff., 191f., 198ff.

19. Mahinda 19 draft

Mahinda 19. An officer of Kittisirimegha, sent by him to fetch the young Parakkamabāhu. Cv.lxvi. 66.

Mahinda 19. Một viên chức của Kittisirimegha, được cử đi bởi ông ta để hộ tống chàng thanh niên trẻ Parakkamabāhu. Cv.lxvi. 66.

20. Mahinda 20 draft

Mahinda 20. A Lambakaṇṇa in the Moriya district, an officer of Parakkamabāhu I. He was a Nagaragiri, and was sent by Parakkamabāhu to Mallavāḷāna, where he conducted a victorious campaign against Uttararaṭṭha. Later he took Anurādhapura, and was one of those responsible for the capture of Gajabāhu at Pulatthipura. Cv.lxix. 13; lxx. 89, 146ff.; 158, 199ff.

Mahinda 20. Một người Lambakaṇṇa ở khu vực Moriya, một viên chức của Parakkamabāhu I. Ông là một Nagaragiri, và được Parakkamabāhu cử đi đến Mallavāḷāna, nơi ông đã tiến hành một chiến dịch thắng lợi chống lại Uttararaṭṭha. Sau đó ông đã chiếm được Anurādhapura, và là một trong số những người chịu trách nhiệm cho việc bắt giữ Gajabāhu tại Pulatthipura. Cv.lxix. 13; lxx. 89, 146ff.; 158, 199ff.

21. Mahinda 21 draft

Mahinda 21. Mahinda Mahā Lekha. An officer of Māṇābharaṇa. He was defeated by the Kesadhātu Rakkha at Sarogāmatittha and again by the troops of Parakkamabāhu I. at Janapada. Cv.lxxii.Iff., 166.

Mahinda 21. Mahinda Mahā Lekha. Một viên chức của Māṇābharaṇa. Ông đã bị đánh bại bởi Kesadhātu Rakkha tại Sarogāmatittha và một lần nữa bởi quân đội của Parakkamabāhu I. tại Janapada. Cv.lxxii.Iff., 166.

22. Mahinda 22 draft

Mahinda 22. A minister and kinsman of Parakkamabāhu I. He lived in the palace and erected at Pulatthipura a pāsāda for the Tooth Relic. Cv.lxxiii.124ff.

Mahinda 22. Một đại thần và là người thân của Parakkamabāhu I. Ông đã sống trong cung điện và dựng lên tại Pulatthipura một pāsāda cho Xá-lợi Răng. Cv.lxxiii.124ff.

23. Mahinda 23 draft

Mahinda 23. A man of the Kuliṅga clan, whose wife was a cowherd’s daughter called Dīpanī. He killed Vijayabāhu II. and reigned for five days, but was slain by Kittinissaṅka. Cv.lxxx.15ff.

Mahinda 23. Một người đàn ông của bộ tộc Kuliṅga, mà vợ của ông là con gái của một người chăn bò tên là Dīpanī. Ông đã giết chết Vijayabāhu II. và cai trị trong năm ngày, nhưng đã bị giết bởi Kittinissaṅka. Cv.lxxx.15ff.

24. Mahinda 24 draft

Mahinda 24. Son of Sumanadevī and Bodhigutta. He came among the escort of the Bodhi-tree. Devānampiyatissa conferred on him the rank of Cūḷa Jayamahālekhaka. Mbv.169.

Mahinda 24. Con trai của SumanadevīBodhigutta. Ông đã đến trong đoàn hộ tống của cây Bodhi. Devānampiyatissa đã trao cho ông tước hiệu Cūḷa Jayamahālekhaka. Mbv.169.