Mahā Vihāra draft
Mahā Vihāra. The great monastery at Anurādhapura, for many centuries the chief seat of Buddhism in Ceylon. It was founded by Devānampiyatissa, on the counsel of Mahinda, and included the Mahā Meghavana. The Mahā Meghavanārāma henceforth came to be included in the Mahā Vihāra. The boundary of the vihāra was marked out by the king ploughing a circular furrow starting from near the Gaṅgalatittha on the Kadambanadī and ending again at the river (Mhv.xv.188ff.; Mhvṭ.361; Mbv. 135, 136 says that the ford on the Kadambanadī was Pāsāṇatittha).
A list is given in the Mahā Bodhivaṁsa (pp. 135f) of the places through which the sīmā (boundary) of the Mahā Vihāra passed – Pāsāṇatittha, Kuddavāṭakapāsāṇa, Kumbhakāra-āvāta, the Mahā Nīpa tree, Kakudhapāli, Mahā Aṅgaṇa tree, Khujjamātula tree, Marutta pokkharaṇī, the northern gate of the Vijayārāma park, Gajakumbhakapāsāṇa, then passing Avaṭṭimajjha, Bālakapāsāṇa on the Abhayavāpi, Mahā Susāna, Dīghapāsāṇa, the left side of Caṇḍālagāma, the Nīcasusāna to the left of Kammāradeva, Sīmānigrodha, Veḷuvaṅgaṇa, round the hermitages of the Nigaṇṭhas Jotiya Giri and Kumbhaṇḍa, to the right of the various hermitages of the Paribbājakas, by Hiyagalla, along the shrine of the Brahmin Dīyavāsa, through Telumapāli, Tālacatukka, to the right of the stables (assamaṇḍala), on to Sasakapāsāṇa and Marumbatittha. It then proceeded up the river to Sīhasinānatittha, on to Pāsāṇatittha, ending at Kuddavāṭakapāsāṇa.
The Mahā Vihāra contained thirty-two Mālakas (Mhv.xv.214) and had numerous buildings attached to it, apart from sacred shrines, such as the Mahā Bodhi-tree, Thūpārāma, Mahā Thūpa, etc. In its early period, the precincts of the Mahā Vihāra contained other buildings besides those dedicated to the service of Buddhism e.g., the hermitages of the Nigaṇṭhas and the Paribbājakas (as mentioned above) and the shrine of the guardian deity of Anurādhapura (Mhv.xxv.87). In the time of Vaṭṭagāmaṇī, the Mahā Vihāra monks divided into two factions, and one party occupied Abhayagiri, built by the king (Mhv.xxxiii.97f). At first the differences between these two factions were trivial, but, as time went on, Abhayagiri grew in power and riches and proved a formidable rival to the older monastery.
From time to time various kings and nobles made additions and restorations to the Mahā Vihāra. Thus Vasabha (Mhv.xxxxv.88) built a row of cells, and Bhātikatissa erected a boundary wall (Mhv.xxxvi.2), while Kaniṭṭhatissa removed the boundary wall and constructed the Kukkuṭagiri pariveṇa, twelve large pāsādas, a refectory, and a road leading from Mahā Vihāra to Dakkhiṇavihāra (Mhv.xxxvi.10f). Vohārikatissa appointed a monthly gift of a thousand to the monks of the Mahā Vihāra (Mhv.xxxvi.32), while Sirisaṅghabodhi built a salāka house (Mhv.xxxvi.74). Goṭhābhaya erected a stone pavilion and made a padhānabhūmi to the west of the vihāra (Mhv.xxxvi.102,106).
Towards the latter part of Goṭhābhaya’s reign, a dispute arose between the Mahā Vihāra and Abhayagiri on matters of doctrine, and sixty monks of Abhayagiri, who had adopted the Vetulyavāda, were banished. They obtained the assistance of a Coḷa monk, named Saṅghatissa, and at a solemn assembly of the monks concerned, at Thūpārāma, Saṅghamitta expounded his heretical doctrine, refuting the opposition of the Mahā Vihāra monks, and succeeded in winning over the king, who was present, in spite of the efforts of his uncle, Goṭhābhaya Thera, to bring him round to the orthodox party. Saṅghamitta became tutor to the king’s sons, and when one of these, Mahā Sena, became king, he prompted him to destroy the Mahā Vihāra. A royal decree was issued forbidding the giving of alms to the Mahā Vihāra. The monks thereupon left the monastery, and for nine years it remained deserted. Many of the buildings were destroyed, and various possessions belonging to the Mahā Vihāra were removed to Abhayagiri; but the people, led by the king’s minister and friend, Meghavaṇṇābhaya, revolted against the impious deeds of Mahā Sena and his admirers, Saṅghamitta and Soṇa, and the king was forced to yield. Saṅghamitta and Soṇa were slain by one of the queens, and the king, with the help of Meghavaṇṇābhaya, rebuilt several pariveṇas and restored some of the possessions, which had been removed. But Mahā Sena’s allegiance to the Mahā Vihāra teaching was not lasting; acting on the advice of a monk named Tissa, he built the Jetavanavihāra in the grounds of the Mahā Vihāra, against the wish of the monks there; the latter left again for nine months as a sign of protest against the king’s attempts to remove the boundary of the vihāra. This attempt, however, he was forced to abandon (Mhv.xxxvi.110f.; xxxvii.1-37).
Mahā Sena’s son, Sirimeghavaṇṇa, on coming to the throne, exerted himself to undo the damage which had been wrought by his father. He rebuilt the Lohapāsāda and restored all the demolished pariveṇas, together with their endowments (Cv.xxxvii.54ff). Mahā Vihāra had, by now, become famous as a seat of learning; it was the centre of Theravāda Buddhism, and was the repository of various Commentaries, of which the chief were the Sīhalaṭṭhakathā on the Pāli Canon. Thither, therefore, came scholars from various countries, among them Buddhaghosa (q.,v.), who resided in the Ganthākara pariveṇa and compiled his Pāli Commentaries (Cv.xxxvii.215ff).
When Dhātusena became king he had the walls of the Mahā Vihāra painted with various ornamental designs (Cv.xxxviii.43). The Dhammarucikas seem to have been favourites of this king and to have occupied the Mahā Vihāra, later moving to Ambatthala vihāra (Cv.xxxviii.75). Mahā Nāga instituted a permanent distribution of soup to the inhabitants of the Mahā Vihāra (Cv.xli.99) and Jeṭṭhatissa III. planted another Bodhi-tree there, called the Mahā Metta (Cv.xliv.96).
Udaya I. built a new salāka hall (Cv.xlix.14). Aggabodhi IX. discontinued the habit of the monks of the smaller vihāras surrounding Anurādhapura from coming to Mahā Vihāra for their supply of medicines and made other arrangements for their distribution (Cv.xlix.88). Sena I. and his queen Saṅghā erected and endowed the Saṅghasena pariveṇa (Cv.l.70), while Kassapa IV. built the Samuddagiri pariveṇa and gave it for the use of the Paṁsukūlikas, while for the forest dwelling monks of the Mahā Vihāra he built forest dwellings (Cv.lii.21f.; Cv.Trs.i.163, n.8). Kassapa’s kinsman, the general Rakkha, built a vihāra in the village of Savāraka and gave it to the incumbents of the Mahā Vihāra, to be used as a padhānaghara, while Mahā Lekhasena built, in the Mahā Vihāra itself, the Mahā Lekhapabbata (Cv.lii.31ff). Udaya IV. gave a diadem of jewels to the Buddha image in the Mahā Vihāra, while his wife Vidurā added to it a network of rays made of precious stones (Cv.liii.49ff).
During the invasions of the Coḷas and the Paṇḍus from South India, and owing to the consequent confusion prevailing in the country, the Mahā Vihāra seems to have been neglected. Many of the buildings were destroyed and their priceless possessions plundered. Discipline among the monks became slack and there were many dissensions. Later, when Parakkamabāhu I. had restored peace, he wished to purify the religion, but met with great opposition, and it was only after strenuous efforts that he brought about a reconciliation between the different parties (Cv.lxxviii.11ff).
It is said that the king could not find one single pure member of the Saṅgha (Cv.lxxviii.25). He, therefore, held a special ordination ceremony, admitting many monks into the Saṅgha.
After the removal of the capital from Anurādhapura to Pulatthipura, the Mahā Vihāra lost its importance; the centre of activity was now at Pulatthipura, and later, at other capitals, and the Mahā Vihāra fell into neglect and decay, from which it has never recovered.
Mahā Vihāra. Tu viện vĩ đại tại Anurādhapura, trong nhiều thế kỷ là trung tâm chính của Phật giáo ở Tích Lan. Nó được thành lập bởi Devānampiyatissa, theo lời khuyên của Mahinda, và bao gồm Mahā Meghavana. Mahā Meghavanārāma từ nay về sau đã được bao gồm trong Mahā Vihāra. Ranh giới của vihāra đã được đánh dấu bởi việc nhà vua cày một luống cày hình tròn bắt đầu từ gần Gaṅgalatittha trên sông Kadambanadī và kết thúc một lần nữa tại dòng sông (Mhv.xv.188ff.; Mhvṭ.361; Mbv. 135, 136 nói rằng bến cạn trên sông Kadambanadī là Pāsāṇatittha).
Một danh sách được đưa ra trong Mahā Bodhivaṁsa (pp. 135f) về những địa điểm mà sīmā (ranh giới) của Mahā Vihāra đã đi qua – Pāsāṇatittha, Kuddavāṭakapāsāṇa, Kumbhakāra-āvāta, cây Mahā Nīpa, Kakudhapāli, cây Mahā Aṅgaṇa, cây Khujjamātula, Marutta pokkharaṇī, cổng phía bắc của công viên Vijayārāma, Gajakumbhakapāsāṇa, sau đó đi qua Avaṭṭimajjha, Bālakapāsāṇa trên Abhayavāpi, Mahā Susāna, Dīghapāsāṇa, phía bên trái của Caṇḍālagāma, Nīcasusāna ở phía bên trái của Kammāradeva, Sīmānigrodha, Veḷuvaṅgaṇa, xung quanh những am thất của những Nigaṇṭha là Jotiya Giri và Kumbhaṇḍa, đến phía bên phải của nhiều am thất khác nhau của các Paribbājaka, cạnh Hiyagalla, dọc theo điện thờ của vị Bà-la-môn Dīyavāsa, qua Telumapāli, Tālacatukka, đến phía bên phải của những chuồng ngựa (assamaṇḍala), đi tới Sasakapāsāṇa và Marumbatittha. Sau đó nó tiến lên dòng sông đến Sīhasinānatittha, đi tới Pāsāṇatittha, kết thúc tại Kuddavāṭakapāsāṇa.
Mahā Vihāra có chứa ba mươi hai Mālaka (Mhv.xv.214) và có vô số những tòa nhà được gắn liền với nó, ngoài những điện thờ linh thiêng, chẳng hạn như cây Mahā Bodhi, Thūpārāma, Mahā Thūpa, v.v. Trong thời kỳ đầu của nó, khuôn viên của Mahā Vihāra có chứa những tòa nhà khác bên cạnh những tòa nhà được dành riêng cho việc phục vụ của Phật giáo, ví dụ, những am thất của các Nigaṇṭha và của các Paribbājaka (như đã được đề cập đến ở trên) và điện thờ của vị thần bảo hộ của Anurādhapura (Mhv.xxv.87). Vào thời của Vaṭṭagāmaṇī, những vị tỳ-kheo của Mahā Vihāra đã chia thành hai phe phái, và một phe đã chiếm đóng Abhayagiri, được xây dựng bởi nhà vua (Mhv.xxxiii.97f). Ban đầu những sự khác biệt giữa hai phe phái này là nhỏ nhặt, nhưng, khi thời gian trôi qua, Abhayagiri đã phát triển mạnh mẽ về quyền lực và sự giàu có và đã chứng tỏ là một đối thủ đáng gờm đối với tu viện cũ hơn.
Thỉnh thoảng những vị vua và các quý tộc khác nhau đã thực hiện những sự bổ sung và trùng tu cho Mahā Vihāra. Như vậy Vasabha (Mhv.xxxxv.88) đã xây dựng một dãy các tịnh thất, và Bhātikatissa đã dựng lên một bức tường ranh giới (Mhv.xxxvi.2), trong khi Kaniṭṭhatissa đã dỡ bỏ bức tường ranh giới và xây dựng pariveṇa Kukkuṭagiri, mười hai pāsāda lớn, một nhà ăn, và một con đường dẫn từ Mahā Vihāra đến Dakkhiṇavihāra (Mhv.xxxvi.10f). Vohārikatissa đã thiết lập một món quà quyên góp hàng tháng gồm một ngàn cho những vị tỳ-kheo của Mahā Vihāra (Mhv.xxxvi.32), trong khi Sirisaṅghabodhi xây dựng một ngôi nhà salāka (Mhv.xxxvi.74). Goṭhābhaya đã dựng lên một sảnh đường bằng đá và tạo ra một padhānabhūmi ở phía tây của vihāra (Mhv.xxxvi.102,106).
Về phần cuối trong triều đại của Goṭhābhaya, một cuộc tranh chấp đã nảy sinh giữa Mahā Vihāra và Abhayagiri về những vấn đề của giáo lý, và sáu mươi vị tỳ-kheo của Abhayagiri, những người đã áp dụng Vetulyavāda, đã bị trục xuất. Họ đã nhận được sự hỗ trợ của một vị tỳ-kheo Coḷa, tên là Saṅghatissa, và tại một hội chúng trang nghiêm của những vị tỳ-kheo có liên quan, tại Thūpārāma, Saṅghamitta đã trình bày học thuyết tà giáo của mình, bác bỏ sự phản đối của những vị tỳ-kheo của Mahā Vihāra, và đã thành công trong việc thu phục được nhà vua, người có mặt ở đó, bất chấp những nỗ lực từ người chú của ông, Goṭhābhaya Thera, nhằm đưa ông trở lại với phe chính thống. Saṅghamitta đã trở thành gia sư cho những người con trai của nhà vua, và khi một trong số những người này, Mahā Sena, trở thành vua, ông ta đã xúi giục ông tiêu diệt Mahā Vihāra. Một sắc lệnh hoàng gia đã được ban hành cấm việc cúng dường đồ ăn cho Mahā Vihāra. Những vị tỳ-kheo do đó đã rời khỏi tu viện, và trong chín năm nó vẫn bị bỏ hoang. Nhiều tòa nhà đã bị phá hủy, và những vật sở hữu khác nhau thuộc về Mahā Vihāra đã bị dời đến Abhayagiri; nhưng những người dân, được dẫn đầu bởi vị đại thần và cũng là người bạn của nhà vua, Meghavaṇṇābhaya, đã nổi dậy chống lại những hành động bất kính của Mahā Sena và những người ngưỡng mộ ông, Saṅghamitta và Soṇa, và nhà vua đã buộc phải nhượng bộ. Saṅghamitta và Soṇa đã bị giết bởi một trong số các hoàng hậu, và nhà vua, với sự giúp đỡ của Meghavaṇṇābhaya, đã xây dựng lại một số pariveṇa và khôi phục lại một số tài sản, thứ đã bị dời đi. Nhưng lòng trung thành của Mahā Sena đối với giáo lý của Mahā Vihāra thì không tồn tại lâu dài; hành động theo lời khuyên của một vị tỳ-kheo tên là Tissa, ông đã xây dựng Jetavanavihāra ở trong khuôn viên của Mahā Vihāra, trái với mong muốn của những vị tỳ-kheo ở đó; những người này đã lại rời đi trong chín tháng như là một dấu hiệu phản đối chống lại những nỗ lực của nhà vua nhằm dời bỏ ranh giới của vihāra. Dẫu vậy, nỗ lực này, ông đã buộc phải từ bỏ (Mhv.xxxvi.110f.; xxxvii.1-37).
Người con trai của Mahā Sena, Sirimeghavaṇṇa, khi lên ngôi, đã nỗ lực hết mình để khắc phục những thiệt hại mà cha ông đã gây ra. Ông đã xây dựng lại Lohapāsāda và phục hồi tất cả những pariveṇa bị phá hủy, cùng với những khoản quyên tặng của chúng (Cv.xxxvii.54ff). Mahā Vihāra, cho đến lúc này, đã trở nên nổi tiếng như là một trung tâm của học thuật; nó là trung tâm của Phật giáo Theravāda, và là kho lưu trữ của nhiều Bản chú giải khác nhau, mà trong số đó chính yếu là Sīhalaṭṭhakathā về Kinh tạng Pāli. Do đó, đã có những học giả từ nhiều quốc gia khác nhau tìm đến đó, trong số họ có Buddhaghosa (xem từ này), người đã cư ngụ ở trong pariveṇa Ganthākara và đã biên soạn các Bản chú giải bằng tiếng Pāli của mình (Cv.xxxvii.215ff).
Khi Dhātusena trở thành vua, ông đã cho người sơn những bức tường của Mahā Vihāra với nhiều thiết kế hoa văn trang trí khác nhau (Cv.xxxviii.43). Những Dhammarucika dường như đã là những người được sủng ái của vị vua này và dường như đã chiếm đóng Mahā Vihāra, sau đó dời đến vihāra Ambatthala (Cv.xxxviii.75). Mahā Nāga đã thiết lập một sự phân phát xúp cố định cho những cư dân của Mahā Vihāra (Cv.xli.99) và Jeṭṭhatissa III. đã trồng một cây Bodhi khác ở đó, được gọi là Mahā Metta (Cv.xliv.96).
Udaya I. đã xây dựng một sảnh đường salāka mới (Cv.xlix.14). Aggabodhi IX. đã đình chỉ thói quen của những vị tỳ-kheo của các vihāra nhỏ hơn bao quanh Anurādhapura đến Mahā Vihāra để nhận nguồn cung cấp thuốc men của họ và đã thực hiện những sự sắp xếp khác cho việc phân phát của chúng (Cv.xlix.88). Sena I. và hoàng hậu của ông là Saṅghā đã xây dựng và ban tặng cho pariveṇa Saṅghasena (Cv.l.70), trong khi Kassapa IV. đã xây dựng pariveṇa Samuddagiri và đã trao nó cho việc sử dụng của những Paṁsukūlika, trong khi đối với những vị tỳ-kheo sống trong rừng của Mahā Vihāra thì ông đã xây dựng những nơi ở trong rừng (Cv.lii.21f.; Cv.Trs.i.163, n.8). Người bà con của Kassapa, vị tướng Rakkha, đã xây dựng một vihāra ở trong ngôi làng Savāraka và trao nó cho những vị trú trì của Mahā Vihāra, để được sử dụng như là một padhānaghara, trong khi Mahā Lekhasena đã xây dựng, ngay tại chính Mahā Vihāra, tòa nhà Mahā Lekhapabbata (Cv.lii.31ff). Udaya IV. đã cúng dường một vương miện bằng đồ trang sức cho bức tượng Phật trong Mahā Vihāra, trong khi vợ của ông là Vidurā đã bổ sung thêm cho nó một mạng lưới của những tia sáng làm bằng những viên đá quý (Cv.liii.49ff).
Trong suốt những cuộc xâm lược của những người Coḷa và những người Paṇḍu từ Nam Ấn, và do bởi sự hỗn loạn xảy ra tiếp theo đó đang bao trùm lấy đất nước, Mahā Vihāra dường như đã bị bỏ bê. Nhiều tòa nhà đã bị phá hủy và những tài sản vô giá của chúng đã bị cướp bóc. Giới luật giữa những vị tỳ-kheo đã trở nên lỏng lẻo và có rất nhiều sự bất đồng. Sau đó, khi Parakkamabāhu I. đã khôi phục lại hòa bình, ông đã mong muốn được thanh lọc tôn giáo, nhưng đã gặp phải sự phản đối to lớn, và chỉ sau những nỗ lực không ngừng nghỉ, ông mới mang lại được một sự hòa giải giữa các phe phái khác nhau (Cv.lxxviii.11ff).
Có người nói rằng nhà vua đã không thể tìm thấy dù chỉ một thành viên thanh tịnh duy nhất của Saṅgha (Cv.lxxviii.25). Do đó, ông đã tổ chức một buổi lễ truyền giới đặc biệt, cho phép nhiều vị tỳ-kheo gia nhập vào Saṅgha.
Sau việc dời bỏ thủ đô từ Anurādhapura đến Pulatthipura, Mahā Vihāra đã mất đi tầm quan trọng của nó; trung tâm của sự hoạt động bây giờ đã ở tại Pulatthipura, và sau này, ở tại các thủ đô khác, và Mahā Vihāra đã rơi vào tình trạng bị bỏ bê và tàn lụi, từ đó nó chưa bao giờ phục hồi được.