Soṇa draft, redirect
01. Soṇa 01 draft
Soṇa 01. Soṇa Thera Aggasāvaka of Vessabhū Buddha. He was the Buddha’s younger brother, and the Buddha’s first sermon was preached to him. Ja.i.42; Bv.xxii.23; Bva.205; DN.ii.4.
02. Soṇa 02 draft
Soṇa 02. Soṇa Thera The enemy and rival of Piyadassī Buddha, corresponding to Devadatta. He conspired with Mahā Paduma to kill the Buddha, but was unsuccessful. Bva.174f.; for details see Piyadassī.
Soṇa 02. Soṇa Thera. Kẻ thù và đối thủ của Piyadassī Buddha, tương đương với Devadatta. Ông đã cấu kết với Mahā Paduma để giết Đức Phật, nhưng không thành công. Bva.174f.; chi tiết xem Piyadassī.
03. Soṇa 03 draft
Soṇa 03. A fierce horse belonging to the king of Benares; he was also called Mahā Soṇa. See the Suhanujātaka (Ja 158).
Soṇa 03. Một con ngựa hung hãng thuộc vua Benares; nó cũng được gọi là Mahā Soṇa. Xem Suhanujātaka (Ja 158).
04. Soṇa 04 draft
Soṇa 04. Soṇa Kuṭikaṇṇa, Soṇa Koṭikaṇṇa A Thera, declared chief of those possessing clear utterance (AN.i.24). He was the son of Kāḷī Kuraragharikā, and was conceived before the Buddha appeared in the world (according to Thaga.i.429, his father was a rich seṭṭhi; no mention is made there of his mother).
A little while before the birth of the child Kāḷī went to her parents’ house in Rājagaha, and one day, as she was cooling herself, she heard a conversation between two Yakkhas, Sātāgira and Hemavata. As she listened to their talk, her mind was filled with thoughts of the virtues of the Buddha, and she became a Sotāpanna. That same night the child was born and was called Soṇa. His mother later returned to Kuraraghara. At that time Mahā Kaccāna lived near by and often visited her home. Soṇa was very attached to him, and was later ordained by him. Three years later he received the upasampadā, and, with Mahā Kaccāna’s leave, visited the Buddha. Kāḷī gave him a large carpet to spread in the Buddha’s Gandhakuṭi.
When Soṇa arrived at the Gandhakuṭi, he worshipped the Buddha, who asked Ānanda to find him a lodging. Ānanda, reading the Buddha’s thoughts, spread a rug in the Buddha’s chamber. Late at night Soṇa went to bed, and, very early the next morning, the Buddha woke him and asked him to recite the Dhamma. Soṇa recited the whole of the Aṭṭhakavagga, which he had learnt from Mahā Kaccāna. At the end of the recital the Buddha applauded him and gave him a boon. Soṇa asked for the “Vinayadharapañcamagaṇena upasampadā, which Kaccāna had asked him to choose (this means permission to admit a monk into the Saṅgha with a chapter of only five monks, one of whom was versed in the Vinaya. For details of Soṇa’s visit to the Buddha, see Vin.i.194ff.; cf. Ud.v.6). Later he returned to Kuraraghara and visited his mother’s house. She had heard of the Buddha’s applause from the Devas, and wished Soṇa to recite the Dhamma just as he had done before the Buddha, and this he did.
In the time of Padumuttara Buddha Soṇa had resolved to win this eminence. In the time of Vipassī Buddha he was a member of the Saṅgha and sewed a robe for a monk. Later he was a tailor of Benares and mended a Pacceka Buddha’s robe (Thag.vss.365-9; ANa.i.133f.; Thaga.i.429).
The Dhammapada Commentary says (Dhpa.iv.103f) that, on the day when Soṇa recited the Dhamma in Kuraraghara, Kāḷī went to listen to him, leaving only one female slave in the house. Her house had seven walls and fortified gates and savage dogs on leash. Molten lead flowed round the walls at night, and in the night it proved a slippery surface, difficult to walk on. Nine hundred thieves had been awaiting a chance of breaking into the house, and this day they saw their opportunity. They stationed one of their number to watch Kāḷī going to the monastery, and to kill her if she started homewards after the thieves entered her house. When they came her female servant ran to the monastery to tell her about it. But she would not be disturbed and sent her back. Again the servant went, and again she was sent back. When the thief, stationed near Kāḷī, saw her extraordinary piety, he was filled with remorse, and, at the end of the sermon, begged her forgiveness. All the nine hundred thieves joined the Saṅgha under Soṇa Kuṭikaṇṇa, and on the day they became Arahants the Buddha appeared before them in a ray of light to encourage them.
According to the Udāna Commentary (Uda.307), Soṇa was called Kuṭikaṇṇa because he wore ear ornaments worth one crore (koṭi). It is said that he once went with a caravan to Ujjenī, and when the caravan stopped for the night he slept away from the rest of its members. The caravan started very early and nobody waked Soṇa. When he finally awoke, he ran along the road till he came to a large tree. There he saw an ugly man tearing off his own flesh and eating it. On enquiry, Soṇa learnt that he had been a wicked merchant of Bhārukaccha, who had been born as a Peta because he had deceived his patrons. This revelation filled Soṇa with great misgivings, which were increased by the sight of two Peta boys with blood pouring out of their lips. They had been youths, also of Bhārukaccha, who had found fault with their mother for feeding an Arahant monk. When Soṇa returned from Ujjenī he consulted Mahā Kaccāna about these things, and resolved to enter the Saṅgha.
The Vinaya says (Vin.i.195f) that when Kaccāna wished to confer the higher ordination on Soṇa, it was three years before he could get together the necessary chapter of ten monks. This was because there were but few monks in Avanti and in the Southern Country; hence Soṇa’s request to the Buddha that he should allow five monks to officiate in Avanti. Other boons asked for by Soṇa and allowed by the Buddha were:
- (1) Permission to use, in Avanti, shoes with thick linings, because the soil of Avanti was black and always muddy;
- (2) permission to bath constantly;
- (3) to use skins for coverlets;
- (4) to accept robes set apart for absent monks even after the lapse of ten days.
Soṇa is evidently identical with Pāṭihīrasaññaka of the Apadāna (Ap.ii.392). Gosāla Thera was a friend of Soṇa Kuṭikaṇṇa. Thaga.i.79.
Soṇa 04. Soṇa Kuṭikaṇṇa, Soṇa Koṭikaṇṇa. Một Thera, được tuyên bố thượng thủ trong số những người có giảng thuyết rõ ràng (AN.i.24). Ngài là con trai của Kāḷī Kuraragharikā, và được thụ thai trước khi Đức Phật xuất hiện trong thế gian (theo Thaga.i.429, cha của ngài là một seṭṭhi giàu có; không có đề cập đến mẹ của ngài ở đó).
Một thời gian trước khi đứa trẻ sinh ra, Kāḷī đến nhà cha mẹ ở Rājagaha, và một ngày, khi bà đang hóng mát, bà nghe cuộc trò chuyện giữa hai Yakkha là Sātāgira và Hemavata. Khi nghe câu chuyện của họ, tâm bà đầy những suy nghĩ về đức hạnh của Đức Phật, và bà trở thành một Sotāpanna. Chính đêm đó đứa trẻ ra đời và được đặt tên là Soṇa. Mẹ ngài về sau trở lại Kuraraghara. Vào lúc đó Mahā Kaccāna sống gần đó và thường hay đến thăm nhà bà. Soṇa rất quyến luyến với ngài, và về sau được ngài thọ giới xuất gia. Ba năm sau, ngài nhận upasampadā, và, với sự cho phép của Mahā Kaccāna, đến thăm Đức Phật. Kāḷī trao cho ngài một tấm thảm lớn để trải trong Gandhakuṭi của Đức Phật.
Khi Soṇa đến Gandhakuṭi, ngài lạy Đức Phật, Đức Phật yêu cầu Ānanda tìm chỗ ở cho ngài. Ānanda, hiểu ý Đức Phật, trải chiếu trong phòng của Đức Phật. Khuya đêm, Soṇa đi ngủ, và rất sớm sáng hôm sau, Đức Phật đánh thức ngài và yêu cầu ngài đọc tụng Pháp. Soṇa đọc tụng toàn bộ Aṭṭhakavagga mà ngài đã học từ Mahā Kaccāna. Sau khi đọc xong, Đức Phật tán thán ngài và ban một ân điện cho ngài. Soṇa xin phép Vinayadharapañcamagaṇena upasampadā mà Kaccāna đã bảo ngài lựa chọn (nghĩa là cho phép nhận một tỳ-kheo vào Tăng đoàn với hội chúng chỉ có năm tỳ-kheo, trong đó một người tinh thông Vinaya. Chi tiết về chuyến thăm của Soṇa đến gặp Đức Phật, xem Vin.i.194ff.; cf. Ud.v.6). Về sau ngài trở lại Kuraraghara và thăm nhà mẹ. Bà đã nghe tin Đức Phật tán thán ngài từ các chư thiên, và muốn Soṇa đọc tụng Pháp đúng như ngài đã làm trước Đức Phật, và ngài đã làm như vậy.
Vào thời Padumuttara Buddha, Soṇa đã nguyện đạt ưu việt này. Vào thời Vipassī Buddha, ngài là một thành viên của Tăng đoàn và khâu một bộ y cho một tỳ-kheo. Về sau ngài là một thợ may ở Benares và vá y cho một Pacceka Buddha (Thag.vss.365-9; ANa.i.133f.; Thaga.i.429).
Dhammapada Commentary (Dhpa.iv.103f) kể rằng, vào ngày Soṇa đọc tụng Pháp ở Kuraraghara, Kāḷī đi nghe ngài, chỉ để lại một nữ nô lệ trong nhà. Nhà bà có bảy lớp tường và cổng phòng thủ, với những con chó dữ được xích lại. Chì lỏng chảy xung quanh tường vào ban đêm, tạo ra bề mặt trơn trợt, khó đi lại. Chín trăm tên cướp đã chờ đợi cơ hội đột nhập vào nhà, và hôm nay chúng thấy thời cơ. Chúng bố trí một đứa canh chừng Kāḷī, và giết bà nếu bà bắt đầu về nhà sau khi bọn cướp đã đột nhập. Khi chúng đến, nữ nô lệ chạy đến tu viện để báo bà. Nhưng bà không bị phân tâm và sai cô ấy trở về. Lại một lần nữa cô đến, lại bị sai trở về. Khi tên cướp canh Kāḷī nhìn thấy lòng thành khẩn kỳ lạ của bà, hắn đầy ân hận, và sau buổi pháp thoại, cầu xin bà tha thứ. Tất cả chín trăm tên cướp đều gia nhập Tăng đoàn dưới sự dẫn dắt của Soṇa Kuṭikaṇṇa, và vào ngày họ chứng đắc Arahant, Đức Phật hiện ra trước mặt họ trong một luồng hào quang để động viên họ.
Theo Udāna Commentary (Uda.307), Soṇa được gọi là Kuṭikaṇṇa vì ngài đeo đồ trang sức tai trị giá một crore (koṭi). Người ta nói rằng một lần ngài đi cùng một đoàn lữ hành đến Ujjenī, và khi đoàn dừng nghỉ đêm, ngài ngủ riêng tách xa những người khác. Đoàn lên đường rất sớm và không ai đánh thức Soṇa. Khi ngài cuối cùng tỉnh dậy, ngài chạy theo con đường cho đến khi gặp một cây lớn. Ở đó ngài thấy một người xấu xí đang rứt thịt của mình để ăn. Khi hỏi, Soṇa được biết rằng hắn đã là một thương nhân gian ác ở Bhārukaccha, đã sinh làm một Peta vì đã lừa dối những thí chủ của mình. Sự tiết lộ này khiến Soṇa đầy lo lắng, và một cảnh tượng nữa làm tăng thêm sự lo lắng: hai cậu bé Peta với máu chảy ra từ môi. Chúng là những thanh niên, cũng ở Bhārukaccha, đã chỉ trích mẹ mình vì cho một tỳ-kheo Arahant ăn. Khi Soṇa trở về từ Ujjenī, ngài tham vấn Mahā Kaccāna về những điều này, và quyết định gia nhập Tăng đoàn.
Vinaya (Vin.i.195f) kể rằng khi Kaccāna muốn trao đại giới cho Soṇa, đã mất ba năm trước khi ngài tập hợp được hội chúng gồm mười tỳ-kheo cần thiết. Điều này là vì có rất ít tỳ-kheo ở Avanti và ở các vùng phía Nam; vì vậy Soṇa mới cầu xin Đức Phật cho phép năm tỳ-kheo có thể làm pháp sự ở Avanti. Những ân điện khác mà Soṇa cầu xin và được Đức Phật chấp thuận là:
- (1) Cho phép dùng ở Avanti, dép lót dày, vì đất Avanti màu đen và luôn luôn lầy lội;
- (2) cho phép tắm thường xuyên;
- (3) dùng da thuộc làm chăn phủ;
- (4) nhận y phục được để riêng cho những tỳ-kheo vắng mặt ngay cả khi đã quá mười ngày.
Soṇa hiển nhiên đồng nhất với Pāṭihīrasaññaka trong Apadāna (Ap.ii.392). Gosāla Thera là bạn của Soṇa Kuṭikaṇṇa. Thaga.i.79.
05. Soṇa 05 draft
Soṇa 05. Soṇa Koḷivisa Thera. He was also called Sukhumāla Soṇa (ANa.i.679). He was born in Campā, his father being Usabha seṭṭhi. From the time of his conception his father’s wealth continued to increase, and, on the day of his birth, the whole town kept festival. Because in a previous birth he had given a ring, worth one hundred thousand, to a Pacceka Buddha, his body was like burnished gold – hence his name (he was evidently called Koḷivisa because he was a Koḷiyan, Ap.i.95, 21). His hands and feet were soft like bandhujīvaka-flowers, and a fine down grew on them (four inches long on his feet, Ap.i.298) curved “like ear ornaments.” He lived in great luxury in three palaces, each having its own season. King Bimbisāra, hearing of him, sent for him and Soṇa went with eighty thousand fellow townsmen.
In Rājagaha he heard the Buddha preach, and, winning faith, entered the Saṅgha with his parents’ consent. The Buddha gave him a subject for meditation, and he went to Sītavana, but many people visited him and he was unable to concentrate. He strove hard, and, through pacing up and down in meditation, painful sores developed on his feet. But he won no attainment and was filled with despair. The Buddha saw this and visited him, and by preaching to him the Vīnūpamovādasutta (see Soṇasutta), taught him how to temper energy with calm. Thus corrected, he put forth fresh effort and attained Arahant-ship (Thag.vss.632-644).
The Vinaya (i.179ff) gives details of Soṇa’s visit to Bimbisāra. The king, being curious to see Soṇa’s feet, sent for him. He and his eighty thousand companions went to see the Buddha, and there they were greatly impressed by the iddhi-power of Sāgata. Soṇa then sought the Buddha alone and joined the Saṅgha. After ordination he walked about meditating, his feet bled, and his caṅkamana was covered with blood “like a slaughter house for oxen.” After Soṇa attained Arahant-ship, the Buddha gave him permission to wear shoes with one lining. Soṇa said he had abandoned eighty cartloads of gold and a retinue of seven elephants. He did not wish, as a monk, to have any luxuries which his colleagues did not share, The Buddha then gave permission to all monks to wear shoes with one lining.
In the time of Anomadassī Buddha he was a very rich seṭṭhi, and, having gone with others to the vihāra and heard the Buddha preach, he decorated a caṅkamana for the Buddha and a long hall (dīghasālā) for the monks. On the caṅkamana he scattered various flowers, and, above it, he hung canopies. In the time of Padumuttara Buddha he was a seṭṭhi of Haṁsavatī named Sirivaḍḍha. It was then that he resolved to win eminence as foremost of those who strove energetically (aggaṁ āraddhaviriyānaṁ), and in this he was successful (AN.i.24). After the death of Kassapa Buddha, Soṇa was a householder in Benares, and built a hut by the river for a Pacceka Buddha, whom he looked after during the rainy season. He was king of the gods for twenty-five kappas, and seventy-seven times king among men under the name of Yasodhara. Thaga.i.544f.; cf. Ap.i.93f., where he is called Koḷiyavessa. The Apadāna Commentary confused his story with that of Soṇa Kuṭikaṇṇa; see also ANa.i.130f., where the details are different, especially regarding the honour paid by Soṇa to the Pacceka Buddha. Once, on visiting the Pacceka Buddha’s cell, he noticed that the ground outside it was muddy; so he spread on the ground a rug worth one hundred thousand, so that the Pacceka Buddha’s feet might not be soiled.
The Apadāna mentions (Ap.i.298) a Thera, called Soṇa Koṭivīsa, evidently identical with the above, the reason given for the name being that he gave away wealth equal in value to twenty crores (vīsa koṭi). His eminence is ascribed to the fact that, in the time of Vipassī Buddha, he made a lena (cave) for the Buddha and his monks and spread it with rugs. Buddhaghosa (ANa.i.130) gives a variant of his name, calling him Koṭivessa, and explains this by saying that he belonged to a Vessa (merchant) family worth a crore.
The Soṇasutta (Cf. ANa.ii.680, where he is described as Gandhabbasippe cheko, skilled in the Gandhabba art, mentions that Soṇa was a clever player of the vīnā before he joined the Saṅgha. It was the example of Soṇa Koḷivisa which urged Nandaka and his brother, Bharata, to leave the world. Thaga.i.299.
Soṇa 05. Soṇa Koḷivisa Thera. Ngài cũng được gọi là Sukhumāla Soṇa (ANa.i.679). Ngài sinh ở Campā, cha là Usabha seṭṭhi. Từ lúc ngài được thụ thai, tài sản của cha ngài tiếp tục tăng lên, và vào ngày ngài ra đời, toàn thành phố mừng hội. Vì trong một tiền kiếp ngài đã dâng một chiếc nhẫn giá trị một trăm ngàn cho một Pacceka Buddha, thân ngài tỏa sáng như vàng đánh bóng — do đó mà có tên ngài (ngài hiển nhiên được gọi là Koḷivisa vì ngài là một người Koḷiyan, Ap.i.95, 21). Tay và chân ngài mềm mại như những bông hoa bandhujīvaka, và một lớp lông tơ mọc trên đó (dài bốn inch ở chân, Ap.i.298) cong "như đồ trang sức tai." Ngài sống cực kỳ sang trọng trong ba cung điện, mỗi cung một mùa riêng. Vua Bimbisāra, nghe tiếng, sai người mời ngài đến và Soṇa đi cùng tám mươi ngàn người đồng hương.
Tại Rājagaha, ngài nghe Đức Phật thuyết pháp, và có đức tin, gia nhập Tăng đoàn với sự đồng ý của cha mẹ. Đức Phật cho ngài một đề tài thiền định, và ngài đến Sītavana, nhưng nhiều người đến thăm ngài và ngài không thể tập trung. Ngài nỗ lực, và do đi đi lại lại trong thiền định, các vết thương đau đớn xuất hiện trên chân. Nhưng ngài không đạt được thành tựu và tuyệt vọng. Đức Phật thấy điều này và đến thăm ngài, và bằng cách giảng cho ngài Vīnūpamovādasutta (xem Soṇasutta), dạy ngài cách kết hợp năng lượng với sự bình tĩnh. Được chỉnh sửa như vậy, ngài nỗ lực mới và chứng đắc Arahant (Thag.vss.632-644).
Vinaya (i.179ff) ghi chi tiết về chuyến Soṇa đến gặp Bimbisāra. Vua, tò mò muốn xem chân của Soṇa, sai mời ngài. Ngài và tám mươi ngàn bạn đồng hương đến gặp Đức Phật, và họ rất ấn tượng trước thần thông iddhi của Sāgata. Sau đó Soṇa một mình tìm gặp Đức Phật và gia nhập Tăng đoàn. Sau khi xuất gia, ngài đi lại thiền hành, chân ngài chảy máu, và con đường thiền hành (caṅkamana) của ngài đầy máu "như một lò mổ bò." Sau khi Soṇa chứng đắc Arahant, Đức Phật cho ngài phép dùng giày lót một lớp. Soṇa nói ngài đã từ bỏ tám mươi xe tải vàng và một đoàn bảy con voi. Ngài không muốn, với tư cách là một tỳ-khưu, có những tiện nghi xa hoa mà các đồng tu không có. Đức Phật sau đó cho phép tất cả tỳ-khưu dùng giày lót một lớp.
Vào thời Anomadassī Buddha, ngài là một seṭṭhi rất giàu, và sau khi cùng những người khác đến vihāra và nghe Đức Phật thuyết pháp, ngài trang trí một caṅkamana cho Đức Phật và một căn nhà dài (dīghasālā) cho các tỳ-khưu. Trên caṅkamana, ngài rải nhiều loại hoa, và bên trên, treo các tán lụa. Vào thời Padumuttara Buddha, ngài là một seṭṭhi ở Haṃsavatī tên là Sirivaḍḍha. Chính lúc đó ngài đã nguyện đạt được ưu việt là thượng thủ trong số những người tinh tấn đầy đủ (aggaṃ āraddhaviriyānaṃ), và ngài đã thành công (AN.i.24). Sau khi Kassapa Buddha viên tịch, Soṇa là một người tại gia ở Benares, và đã xây một lều bên sông cho một Pacceka Buddha, chăm sóc ngài trong mùa an cư. Ngài làm vua chủ của các chư thiên hai mươi lăm kappa, và bảy mươi bảy lần làm vua trong nhân loại với tên Yasodhara. Thaga.i.544f.; cf. Ap.i.93f., nơi ngài được gọi là Koḷiyavessa. Apadāna Commentary đã lẫn lộn câu chuyện của ngài với câu chuyện của Soṇa Kuṭikaṇṇa; xem cũng ANa.i.130f., nơi chi tiết khác nhau, đặc biệt về sự tôn kính của Soṇa đối với Pacceka Buddha. Một lần, khi đến thăm phòng của Pacceka Buddha, ngài nhận thấy đất ở bên ngoài lầy lội; vì vậy ngài trải xuống đất một tấm thảm giá trị một trăm ngàn, để chân Pacceka Buddha khỏi bị dơ.
Apadāna đề cập (Ap.i.298) một Thera gọi là Soṇa Koṭivīsa, hiển nhiên đồng nhất với vị trên, lý do được đưa ra cho tên này là ngài đã bố thí tài sản trị giá bằng hai mươi crore (vīsa koṭi). Ưu việt của ngài được giải thích là do thực tế rằng, trong thời Vipassī Buddha, ngài đã làm một lena (hang) cho Đức Phật và các tỳ-khưu rồi trải gấm lên. Buddhaghosa (ANa.i.130) đưa ra một biến thể của tên ngài, gọi là Koṭivessa, và giải thích rằng ngài thuộc một gia đình Vessa (thương nhân) trị giá một crore.
Soṇasutta (cf. ANa.ii.680, nơi ngài được mô tả là Gandhabbasippe cheko, thành thạo nhạc nghệ Gandhabba) đề cập rằng Soṇa là một người chơi vīnā điêu luyện trước khi gia nhập Tăng đoàn. Chính tấm gương của Soṇa Koḷivisa đã thúc đẩy Nandaka và anh em ngài là Bharata xuất gia. Thaga.i.299.
06. Soṇa 06 draft
Soṇa 06. An Arahant monk who was sent with Uttara to convert Suvaṇṇabhūmi. Dpv.viii.12; Vin-a.i.68, 69; Mhv.xii.6, 44ff.; for details see Suvaṇṇabhūmi.
Soṇa 06. Một tỳ-khưu Arahant được cử cùng với Uttara để hóa độ Suvaṇṇabhūmi. Dpv.viii.12; Vin-a.i.68, 69; Mhv.xii.6, 44ff.; chi tiết xem Suvaṇṇabhūmi.
07. Soṇa 07 draft
Soṇa 07. A minister of Mahā Sena and a follower of the heretic monk, Saṅghamitta. He helped Saṅghamitta in the despoliation of the Lohapāsāda and other buildings. He was killed in an attempt to destroy the Thūpārāma (Mhv.xxxvii.10, 13, 28). In the Dīpavaṁsa (Dpv.xxii.70, 71) he is called Pāpasoṇa.
Soṇa 07. Một quan thần của Mahā Sena và là người theo đuôi vị tỳ-khưu dị giáo Saṅghamitta. Ông đã giúp Saṅghamitta trong việc cướp phá Lohapāsāda và các công trình khác. Ông bị giết trong một cuộc mưu toan phá Thūpārāma (Mhv.xxxvii.10, 13, 28). Trong Dīpavaṃsa (Dpv.xxii.70, 71) ông được gọi là Pāpasoṇa.
08. Soṇa 08 redirect
Redirect target: Mahā Soṇa 01
Soṇa 08. See Mahā Soṇa.
Chưa dịch.
09. Soṇa 09 draft
Soṇa 09. Soṇa Poṭirīyaputta Thera (or Seṭṭhiputta). He was born in Kapilavatthu as the son of the zemindar Poṭirīya (Selissariya), and became chief of the forces of the Sākyan Bhaddiya. When Bhaddiya left the world, Soṇa followed his example and entered the Saṅgha. But he was lazy and not given to meditation. The Buddha saw this from the Ambavana at Anupiyā and, sending forth a ray of glory, spurred him on. Soṇa became inspired, and putting forth effort became an Arahant.
In the time of Sikhī Buddha he was a forester and gave the Buddha a kuruñjiya-fruit (Thag.vss.193, 194; Thaga.i.316f). He is probably identical with Kuruñjiyaphaladāyaka of the Apadāna. Ap.ii.448f.
Soṇa 09. Soṇa Poṭirīyaputta Thera (hoặc Seṭṭhiputta). Ngài sinh ở Kapilavatthu làm con trai của địa chủ Poṭirīya (Selissariya), và trở thành chủ tướng của người Sākyan Bhaddiya. Khi Bhaddiya xuất gia, Soṇa theo gương ông và gia nhập Tăng đoàn. Nhưng ngài lười biếng và không chịu thiền định. Đức Phật thấy điều này từ Ambavana ở Anupiyā và, tràn ra một luồng hào quang, thúc đẩy ngài. Soṇa được hứng khởi, và nỗ lực trở thành Arahant.
Vào thời Sikhī Buddha, ngài là một người giữ rừng và dâng cho Đức Phật một trái kuruñjiya (Thag.vss.193, 194; Thaga.i.316f). Ngài có lẽ đồng nhất với Kuruñjiyaphaladāyaka trong Apadāna. Ap.ii.448f.
10. Soṇa 10 draft
Soṇa 10. A gahapatiputta (son of a householder) of Rājagaha. He is mentioned as having had two conversations with the Buddha at Veḷuvana: one on the impermanence of the body, feelings, etc., their origin and their cessation (SN.iii.48f); and, on another occasion, as to why some beings achieve complete cessation in this life and others do not. SN.iv.113.
Soṇa 10. Một gahapatiputta (con trai của một người tại gia) ở Rājagaha. Ông được đề cập là đã có hai cuộc đàm thoại với Đức Phật tại Veḷuvana: một về sự vô thường của thân xác, các cảm giác, v.v..., nguồn gốc và sự đoạn diệt của chúng (SN.iii.48f); và, trong một dịp khác, về lý do tại sao một số chúng sinh đạt được sự chấm dứt hoàn toàn trong đời này còn một số khác thì không. SN.iv.113.
11. Soṇa 11 draft
Soṇa 11. A gifted preacher, who lived in the Pipphali vihāra at the foot of Soṇṇagiri. His father was a hunter, and all Soṇa’s efforts to lead him away from sin failed, until he was very old, when Soṇa ordained him just before his death. The old man saw the Niraya and dogs coming to devour him. He shouted in fright, and Soṇa took him on his bed to the vihāra and made him worship the cetiya, the bodhi-tree, etc., and offered various things in his father’s name. He then saw the Devaloka before him. Vibha.439; cf. ANa.i.255, where the vihāra is called Pañcālavihāra, and MNa.ii.887, where it is called Pacelivihāra.
Soṇa 11. Một vị thuyết pháp có tài, sống trong vihāra Pipphali dưới chân Soṇṇagiri. Cha ngài là một thợ săn, và mọi nỗ lực của Soṇa để kéo ông ra khỏi tội lỗi đều thất bại, chỉ đến khi ông đã rất già, Soṇa mới thọ giới cho ông ngay trước khi ông lâm chung. Ông lão thấy địa ngục và những con chó đến để ăn thịt ông. Ông hoảng hốt kêu lên, và Soṇa đưa ông trên giường đến vihāra và cho ông đảnh lễ cetiya, cây bodhi, v.v..., và dâng cúng nhiều thứ nhân danh cha ngài. Sau đó ông thấy cõi Deva hiện ra trước mặt. Vibha.439; cf. ANa.i.255, nơi vihāra được gọi là Pañcālavihāra, và MNa.ii.887, nơi được gọi là Pacelivihāra.
12. Soṇa 12 draft
Soṇa 12. A Thera of the Mahā Vihāra, at whose request the Kaṅkhāvitaraṇī was written. Knv., p.1.
Soṇa 12. Một Thera của Mahā Vihāra, theo yêu cầu của ngài mà Kaṅkhāvitaraṇī được viết. Knv., p.1.
13. Soṇa 13 redirect
Soṇa 13. See Soṇa and its compounds.
Chưa dịch.
01. Soṇā 01 draft
02. Soṇā 02 draft
03. Soṇā 03 draft
Soṇā 03. An eminent lay woman, disciple of the Buddha. AN.iv.348.
Soṇā 03. Một nữ cư sĩ tại gia nổi bật, đệ tử của Đức Phật. AN.iv.348.
04. Soṇā 04 draft
Soṇā 04. An eminent Therī of Ceylon. Dpv.xviii.38.
Soṇā 04. Một Therī nổi bật ở Tích Lan. Dpv.xviii.38.
05. Soṇā 05 draft
Soṇā 05. A Therī. She was declared foremost among nuns for capacity of effort (āraddhaviriyānaṁ). She belonged to the family of a clansman of Sāvatthī, and because, after marriage, she had ten sons and daughters, she came to be called Bahuputtikā (Many-children). When her husband renounced the world, she distributed her wealth among her children, keeping nothing for herself. Her children soon ceased to show her any respect, and she entered the Saṅgha in her old age. She waited on the nuns and studied most of the night. Soon her strenuous energy became known to the Buddha, and he, sending forth a ray of glory, spoke to her. Then she attained Arahant-ship.
Her resolve to win eminence was made in the time of Padumuttara Buddha, when she was the daughter of a rich seṭṭhi. (AN.i.25; Thīg.vss.102-6; Thīga.96f.; Ap.ii.576; cf. the story of Bahuputtikā at Dhpa.ii.276f).
The Aṅguttara Commentary says (ANa.i.199) that after she became an Arahant she wished her colleagues to know this because they had been in the habit of constantly finding fault with her for various things, and she did not wish them to continue doing so and thereby commit a sin. She therefore filled a vessel with water, which she heated by her iddhi-power, using no fire. When the nuns came to look for water she told them that if they wanted warm water they could have it from the vessel. They found the water hot, and understood. Then they begged her forgiveness.
Soṇā 05. Một Therī. Bà được tuyên bố thượng thủ trong số các tỳ-khưu-ni về khả năng tinh tấn (āraddhaviriyānaṃ). Bà thuộc gia đình một cư sĩ ở Sāvatthī, và vì sau khi lấy chồng bà có mười con trai và con gái, bà được gọi là Bahuputtikā (nhiều con). Khi chồng xuất gia, bà phân chia tài sản cho các con, không giữ lại gì cho mình. Các con sớm ngừng tôn trọng bà, và bà gia nhập Tăng đoàn khi tuổi đã cao. Bà phục vụ các tỳ-khưu-ni và học tập hầu hết đêm. Không lâu, tinh tấn của bà đến tai Đức Phật, và Ngài, tràn ra một luồng hào quang, nói chuyện với bà. Sau đó bà chứng đắc Arahant.
Quyết tâm đạt ưu việt của bà được thành tựu trong thời Padumuttara Buddha, khi bà là con gái của một seṭṭhi giàu có. (AN.i.25; Thīg.vss.102-6; Thīga.96f.; Ap.ii.576; cf. câu chuyện của Bahuputtikā tại Dhpa.ii.276f).
Aṅguttara Commentary (ANa.i.199) cho biết rằng sau khi trở thành Arahant, bà muốn các đồng tu biết điều này, vì họ đã có thói quen liên tục chỉ trích bà về nhiều thứ, và bà không muốn họ tiếp tục làm vậy và do đó tạo ra tội lỗi. Vì vậy bà đổ nước vào một bình, rồi bằng thần thông iddhi của mình, đun nóng nước mà không dùng lửa. Khi các tỳ-khưu-ni đến tìm nước, bà nói với họ rằng nếu muốn nước ấm có thể lấy từ bình đó. Họ thấy nước đã đun nóng và hiểu. Sau đó họ cầu xin bà tha thứ.
06. Soṇā 06 draft
01. Sona 01 draft
Sona 01. The Bodhisatta born as a Brahmin of Benares. See the Sonanandajātaka (Ja 532).
Sona 01. Bodhisatta sinh làm một Bà-la-môn ở Benares. Xem Sonanandajātaka (Ja 532).
02. Sona 02 redirect
Redirect target: Soṇa 01
Sona 02. See Soṇa.
Chưa dịch.