Bhaddiya draft, redirect

01. Bhaddiya 01 draft

Bhaddiya 01. Bhaddiya Thera An Anāgāmī, one of seven persons who became Arahants as soon as they were born in Avihā. SN.i.35, 60; Thīg­a. 222, etc.

Bhaddiya 01. Bhaddiya Thera. Một vị Anāgāmī, một trong bảy người đã trở thành các vị Arahant ngay khi họ được sinh ra ở Avihā. SN.i.35, 60; Thīg­a. 222, etc.

02. Bhaddiya 02 draft

Bhaddiya 02. Bhaddiya Thera. Called Kāḷigodhāputta, chief among monks of aristocratic birth (uccakulikānaṁ) (AN.23). He belonged to a family of the Sākyan rājas of Kapilavatthu and entered the Saṅgha in the Anupiya Mango grove with Anuruddha and the others, soon afterwards attaining to Arahant-ship. Dwelling in the bliss of Nibbāna, under a tree in a lonely spot, Bhaddiya used to exclaim “Aho sukhaṁ, aho sukhaṁ.” When this was reported to the Buddha, he questioned Bhaddiya, who answered that when he was ruling his principality he was well protected, yet was ever fearful and nervous, whereas now, having renounced all, he was free from all fear (Thag.vss.842-65; Ud­a.ii.10; Vin.i.183f.; Ja.i.140). This incident was the occasion for the preaching of the Sukhavihārījātaka (q.v.).

Bhaddiya was the son of Kāḷigodhā, the senior Sākyan lady of her time. For five hundred births Bhaddiya had been king, hence his eminence in this life, though there were others more aristocratic (AN­a.i.109). His resolve to gain this distinction was formed in the time of Padumuttara Buddha, when he was born in a very rich family and did various good deeds towards that end. In the interval between Kassapa Buddha and Gotama Buddha, he was a householder of Benares and, discovering that Pacceka Buddhas took their meals on the banks of the Ganges, placed seven stone planks for them to sit on (Thag­a.ii.55f.; Ap.i.95f). When Bhaddiya was ruling his Sākyan principality he had as general Soṇa Poṭiriyaputta, who later joined the Saṅgha (Thag­a.i.316). Anuruddha was Bhaddiya’s great friend, and when Anuruddha wished to renounce the world, his mother agreed only on condition that Bhaddiya should accompany him, hoping, in this way, to hold him back. But Anuruddha overcame all Bhaddiya’s objections and persuaded him to renounce the household life within a week.

It is said (Vin.ii.182f) that Bhaddiya attained Arahant-ship in the first rainy season after his ordination.

Bhaddiya 02. Bhaddiya Thera. Được gọi là Kāḷigodhāputta, vị đệ nhất trong số những tỳ-kheo xuất thân quý tộc (uccakulikānaṁ) (AN.23). Ông thuộc về một gia đình của những rāja người Sākyan ở Kapilavatthu và đã gia nhập Tăng đoàn tại vườn Xoài Anupiya cùng với Anuruddha và những người khác, không lâu sau đó đạt được quả vị Arahant. Sống trong niềm an lạc của Nibbāna, dưới một gốc cây ở một nơi vắng vẻ, Bhaddiya thường thốt lên "Aho sukhaṁ, aho sukhaṁ." Khi điều này được báo cáo lên Đức Phật, ngài đã hỏi Bhaddiya, người đã trả lời rằng khi ông đang cai trị công quốc của mình ông được bảo vệ cẩn thận, nhưng lại luôn luôn lo sợ và căng thẳng, trong khi đó bây giờ, sau khi đã từ bỏ tất cả, ông hoàn toàn thoát khỏi mọi nỗi sợ hãi (Thag.vss.842-65; Ud­a.ii.10; Vin.i.183f.; Ja.i.140). Sự kiện này là nhân duyên cho việc thuyết giảng bài Sukhavihārījātaka (q.v.).

Bhaddiya là con trai của Kāḷigodhā, một quý bà người Sākyan cao cấp nhất trong thời của bà. Trong năm trăm kiếp sống Bhaddiya đã từng là vua, do đó sự xuất chúng của ông trong kiếp sống này, mặc dù có những người khác quý tộc hơn (AN­a.i.109). Quyết tâm đạt được sự xuất chúng này của ông đã được hình thành trong thời của Padumuttara Buddha, khi ông sinh ra trong một gia đình rất giàu có và đã làm nhiều thiện sự cho mục đích đó. Trong khoảng thời gian giữa Kassapa Buddha và Gotama Buddha, ông là một gia chủ ở Benares và, khi phát hiện ra rằng các vị Pacceka Buddha dùng bữa trên bờ sông Ganges, đã đặt bảy phiến đá cho họ ngồi (Thag­a.ii.55f.; Ap.i.95f). Khi Bhaddiya đang cai trị công quốc Sākyan của mình ông đã có Soṇa Poṭiriyaputta làm vị tướng, người sau này cũng gia nhập Tăng đoàn (Thag­a.i.316). Anuruddha là bạn thân của Bhaddiya, và khi Anuruddha mong muốn từ bỏ thế gian, mẹ của ông chỉ đồng ý với điều kiện Bhaddiya phải đi cùng ông, hy vọng rằng, bằng cách này, sẽ kìm hãm được ông. Nhưng Anuruddha đã vượt qua mọi sự phản đối của Bhaddiya và thuyết phục ông từ bỏ đời sống gia đình trong vòng một tuần.

Người ta nói (Vin.ii.182f) rằng Bhaddiya đã đạt được quả vị Arahant trong mùa an cư đầu tiên sau khi xuất gia.

03. Bhaddiya 03 draft

Bhaddiya 03. v.l. Bhaddika. A city in the Aṅga kingdom (Dhp­a.i.384; also iii.363). The Buddha visited there several times and stayed sometimes at the Jātiyāvana where Meṇḍaka, who lived there, came to see him (Vin.ii.242; Dhp­a.iii.363; also AN.iii.36).

It was there that the precept was laid down forbidding monks to wear sandals. Vin.i.190; Dhp­a.iii.451f.; also another ruling re the Pārājikā (Vin.iii.37f).

Bhaddiya was also the residence of Bhaddaji Thera and Visākhā.

Ja.ii.331, etc.; Divy.123ff calls it Bhadraṅkara.

Bhaddiya 03. v.l. Bhaddika. Một thành phố trong quốc độ Aṅga (Dhp­a.i.384; cũng xem iii.363). Đức Phật đã viếng thăm nơi đó nhiều lần và đôi khi lưu trú tại Jātiyāvana nơi Meṇḍaka, người sống ở đó, đã đến gặp ngài (Vin.ii.242; Dhp­a.iii.363; cũng xem AN.iii.36).

Chính tại đó, điều luật cấm các tỳ-kheo mang dép đã được đặt ra. Vin.i.190; Dhp­a.iii.451f.; cũng có một quy định khác liên quan đến Pārājikā (Vin.iii.37f).

Bhaddiya cũng là nơi cư ngụ của Bhaddaji TheraVisākhā.

Ja.ii.331, v.v.; Divy.123ff gọi nó là Bhadraṅkara.

04. Bhaddiya 04 draft

Bhaddiya 04. A seṭṭhi, father of Bhaddaji Thera.

Bhaddiya 04. Một vị trưởng giả, cha của Bhaddaji Thera.

05. Bhaddiya 05 redirect

Bhaddiya 05. See Lakuṇṭaka Bhaddiya.

Chưa dịch.

06. Bhaddiya 06 draft

Bhaddiya 06. One of the four chief merchants of Ekarāja, king of Pupphavatī (Benares). Ja.vi.135.

Bhaddiya 06. Một trong bốn vị thương gia chính của Ekarāja, vua của Pupphavatī (Benares). Ja.vi.135.

07. Bhaddiya 07 draft

Bhaddiya 07. A Licchavī who visited the Buddha at the Kūṭāgārasālā and asked if it were true that the Buddha was a magician who, by a glamorous trick, enticed away the followers of others. The Buddha advised Bhaddiya not to be led away by hearsay but to judge for himself; and he then proceeded, by means of question and answer, to convince Bhaddiya that his teachings were truly founded on fact and, if accepted and practised, would benefit not only human beings but the very trees of the forest (AN.ii.190ff). The Commentary adds (AN­a.ii.558) that, at the conclusion of the discourse, Bhaddiya became a Sotāpanna.

Bhaddiya 07. Một người Licchavī đã đến thăm Đức Phật tại Kūṭāgārasālā và hỏi xem có đúng Đức Phật là một nhà ảo thuật người đã, bằng một trò ảo thuật quyến rũ, lôi kéo những người theo của những đạo sư khác hay không. Đức Phật đã khuyên Bhaddiya đừng để bị dẫn dắt bởi những lời đồn đại mà hãy tự mình phán xét; và sau đó ngài tiếp tục, bằng cách hỏi và đáp, thuyết phục Bhaddiya rằng những giáo pháp của ngài thực sự được đặt nền tảng trên sự thật và, nếu được chấp nhận và thực hành, sẽ mang lại lợi ích không chỉ cho con người mà còn cho cả những cái cây trong rừng (AN.ii.190ff). Chú giải nói thêm (AN­a.ii.558) rằng, khi kết thúc bài pháp, Bhaddiya đã trở thành một vị Sotāpanna.