Aṅga draft
01. Aṅga 01 draft
Aṅga 01. (see also Aṅgā). One of the stock list of the sixteen Powers or Great Countries (Mahā Janapadā), mentioned in the Piṭakas, e.g., AN.i.213; iv.252, 256, 260.
The countries mentioned are Aṅga, Magadha, Kāsī, Kosala, Vajjī, Mallā, Cetī, Vaṁsā, Kuru, Pañcāla, Macchā, Sūrasena, Assaka, Avanti, Gandhāra, and Kamboja. Other similar lists occur elsewhere, e.g. DN.ii.200 (where ten countries are mentioned); see also Mvu.i.34 and Mvu.i.198; and Lalitavistara.24(22).
It was to the east of Magadha, from which it was separated by the River Campā, and had as its capital city Campā, near the modern Bhagalpur (Cunningham, pp. 546-7). Other cities mentioned are Bhaddiya (DNa.i.279; Dhpa.i.384) and Assapura (MN.i.271).
The country is generally referred to by the name of its people, the Aṅgā, though occasionally (e.g., Dhpa.i.384) the name Aṅgaraṭṭha is used. In the Buddha’s time it was subject to Magadha (Thaga.i.548), whose king Bimbisāra was, we are told, held in esteem also by the people of Aṅga (MNa.i.394), and the people of the two countries evidently used to pay frequent visits to each other (Ja.ii.211). We never hear of its having regained its former independence, but traditions of war between the two countries are mentioned (e.g., Ja.iv.454; Ja.v.316; Ja.vi.271).
In the Buddha’s time the Aṅgarājā was just a wealthy nobleman, and he is mentioned merely as having granted a pension to a Brahmin (MN.ii.163). The people of Aṅga and Magadha are generally mentioned together, so we may gather that by the Buddha’s time they had become one people. They provide Uruvelā Kassapa with offerings for his great sacrifice (Vin.i.27). It was their custom to offer an annual sacrifice to Mahā Brahma in the hope of gaining reward a hundred thousand fold. On one occasion Sakka appears in person and goes with them to the Buddha so that they may not waste their energies in futile sacrifices (SNa.i.269-70).
Several discourses were preached in the Aṅga country, among them being the Soṇadaṇḍasutta and the two Assapurasuttas (Mahā – and Cūḷa). The Mahā Govindasutta seems to indicate that once, in the past, Dhataraṭṭha was king of Aṅga. But this, perhaps, refers to another country (Dial.ii.270 n.; see also The Rāmāyaṇa i.8, 9, 17, 25).
Soṇa Koḷivisa, before he entered the Saṅgha, was a squire (paddhagu) of Aṅga. Thag.v.632.
Aṅga 01. (xem thêm Aṅgā). Một trong danh sách cố định gồm mười sáu Cường quốc hay Đại quốc (Mahā Janapadā), được nhắc đến trong các Piṭakas, ví dụ AN.i.213; iv.252, 256, 260.
Các xứ được nhắc đến là Aṅga, Magadha, Kāsī, Kosala, Vajjī, Mallā, Cetī, Vaṁsā, Kuru, Pañcāla, Macchā, Sūrasena, Assaka, Avanti, Gandhāra, và Kamboja. Những danh sách tương tự khác xuất hiện ở nơi khác, ví dụ DN.ii.200 (nơi mười xứ được nhắc đến); xem thêm Mvu.i.34 và Mvu.i.198; và Lalitavistara.24(22).
Xứ này nằm ở phía đông Magadha, được ngăn cách với Magadha bởi sông Campā, và có kinh đô là Campā, gần Bhagalpur hiện đại (Cunningham, pp. 546-7). Các thành phố khác được nhắc đến là Bhaddiya (DNa.i.279; Dhpa.i.384) và Assapura (MN.i.271).
Xứ này thường được gọi bằng tên của dân chúng nơi ấy, tức Aṅgā, mặc dù đôi khi (ví dụ Dhpa.i.384) tên Aṅgaraṭṭha được dùng. Vào thời Đức Phật, xứ này lệ thuộc Magadha (Thaga.i.548), vua của Magadha là Bimbisāra, chúng ta được kể, cũng được dân Aṅga kính trọng (MNa.i.394), và dân hai xứ hiển nhiên thường xuyên qua lại thăm nhau (Ja.ii.211). Chúng ta không hề nghe nói xứ này đã giành lại được nền độc lập trước kia, nhưng các truyền thống về chiến tranh giữa hai xứ có được nhắc đến (ví dụ Ja.iv.454; Ja.v.316; Ja.vi.271).
Vào thời Đức Phật, Aṅgarājā chỉ là một nhà quý tộc giàu có, và ông chỉ được nhắc đến như người đã cấp một khoản trợ cấp cho một vị Bà-la-môn (MN.ii.163). Dân Aṅga và Magadha thường được nhắc chung với nhau, vì vậy chúng ta có thể hiểu rằng vào thời Đức Phật họ đã trở thành một dân tộc. Họ cung cấp lễ vật cho Uruvelā Kassapa để làm đại tế lễ của ông (Vin.i.27). Phong tục của họ là dâng một tế lễ hằng năm cho Mahā Brahma với hy vọng đạt được phần thưởng gấp một trăm ngàn lần. Trong một dịp, Sakka đích thân xuất hiện và đi cùng họ đến gặp Đức Phật để họ không lãng phí sức lực vào những tế lễ vô ích (SNa.i.269-70).
Nhiều bài kinh được thuyết trong xứ Aṅga, trong số đó có Soṇadaṇḍasutta và hai Assapurasuttas (Mahā – và Cūḷa). Mahā Govindasutta dường như cho thấy rằng một lần, trong quá khứ, Dhataraṭṭha là vua của Aṅga. Nhưng điều này, có lẽ, chỉ đến một xứ khác (Dial.ii.270 n.; xem thêm The Rāmāyaṇa i.8, 9, 17, 25).
Soṇa Koḷivisa, trước khi gia nhập Tăng đoàn, là một thân hào (paddhagu) của Aṅga. Thag.v.632.
02. Aṅga 02 draft
Aṅga 02. King. Chief lay supporter of Sumana Buddha (Bva.130); the Buddhavaṁsa mentions Varuṇa and Saraṇa as Sumana’s aggupaṭṭhākā and Udena as upaṭṭhāka. Bv.v.28.
03. Aṅga 03 draft
Aṅga 03. A king of Benares on whose feet hair grew. He inquired of the Brahmins the way to heaven, and was told to retire to the forest and tend the sacred fire. He went to Himavā with many cows and women and did as he was counselled. The milk and ghee left over from his sacrifices were thrown away, and from them arose many minor rivers, the Ganges itself, and even the sea. Later he became Indra’s companion. Ja.vi.203
Aṅga 03. Một vị vua của Benares, trên hai bàn chân có lông mọc. Ông hỏi các Bà-la-môn con đường đến cõi trời, và được bảo hãy lui vào rừng và chăm sóc ngọn lửa thiêng. Ông đi đến Himavā cùng nhiều bò và phụ nữ, và làm như lời được khuyên. Sữa và bơ sữa còn lại từ các tế lễ của ông bị đổ bỏ, và từ chúng sinh khởi nhiều con sông nhỏ, chính sông Ganges, và cả biển. Về sau ông trở thành bạn đồng hành của Indra. Ja.vi.203
04. Aṅga 04 draft
05. Aṅga 05 draft
Aṅga 05. One of the Pacceka Buddhas mentioned in the list in the Apadāna Commentary Apa.i.107.
Aṅga 05. Một trong các Pacceka Buddhas được nhắc đến trong danh sách ở Chú giải Apadāna Apa.i.107.
06. Aṅgā 06 draft
Aṅgā 06. Chieftains of Aṅga, so-called, according to the Dīgha Commentary (i.279), because of the beauty of their limbs. Their name was customarily (rūḷhi-vasena) used to denote their country.
Aṅgā 06. Các thủ lĩnh của Aṅga, được gọi như vậy, theo Chú giải Dīgha (i.279), vì vẻ đẹp của các thân phần của họ. Tên của họ theo quy ước (rūḷhi-vasena) được dùng để chỉ xứ của họ.