Vajjī draft

Vajjī, Vajjīs, Vajjians. The name of a country and of its people. It was one of the sixteen Mahā Janapadas. The inhabitants appear to have consisted of several confederate clans of whom the Licchavī and the Videhā were the chief. A passage in the Commentaries (e.g., DN­a.ii.519) – which states that among those responsible for the administration of justice in the Vajjī country (see Licchavī) were the Aṭṭhakulakā – has given rise to the conjecture that Aṭṭhakulakā meant heads of eight clans composing the Vajjī confederacy. There is no other evidence regarding the number of the clans. The Aṭṭhakulakā were probably a judicial committee.

As time went on the Licchavī became the most powerful of these clans (Licchavī Vajjiraṭṭhavāsīhi pasatthā) (e.g., MN­a.i.394), and the names Vajjī and Licchavī were often synonymous. See Licchavī; in the Trikandaseṣa, quoted by Cunningham (Ancient Geography of India. 509), Licchavī, Vaideha and Tirabhukti were synonymous. In one passage (AN.iii.76) the Licchavī, Mahā Nāma, seeing that a band of young Licchavīs who had been out hunting were gathered round the Buddha, is represented as saying, “These Licchavīs will yet become Vajjians” (bhavissanti Vajjī). This probably only means that there was great hope of these young men becoming true Vajjians, practising the seven conditions of welfare taught by the Buddha, conditions which ensured their prosperity. But see GS.iii.62, n.1 and 3.

Vesālī was the capital of the Licchavīs and Mithilā of the Videhas. In the time of Gotama Buddha, both Vesālī and Mithilā were republics, though Mithilā had earlier been a kingdom under Janaka.

In the time of the Buddha, and even up to his death, the Vajjians were a very prosperous and happy community. The Buddha attributed this to the fact that they practiced the seven conditions of welfare taught to them by himself in the Sārandada cetiya. The details of this teaching, and various other matters connected with the Vajjī, are given under Licchavī. But soon after the Buddha’s death (three years after the Buddha’s last visit to Vesālī, according to Buddhaghosa, DN­a.ii.522), Ajātasattu, with the help of his minister Vassakāra, sowed dissension among the Vajjians and conquered their territory.

The Buddha travelled several times through the Vajjī country, the usual route being through Kosala, Malla, Vajjī, Kāsi, Magadha, and thus back (See, e.g., SN.v.348), and he preached to the people, mostly in the Kūṭāgārasālā in Vesālī. Among other places besides Vesālī visited by the Buddha, are mentioned Ukkācelā, Koṭigāma (see, e.g., Ja.ii.232, where it is called a village of the Vajjians, on the Ganges), Nādikā (in which were Giñjakāvasatha and Gosiṅgasālavana), Beluvagāma (or Veḷuvagāma), Bhaṇḍagāma, Bhogagāma and Hatthigāma. Pubbavijjhana, the birthplace of Channa, is also mentioned as a village of the Vajjians (SN.iv.59). The Vaggumudā river flowed through Vajjī territory (Ud.iii.3).

In one context (Ud­a., p. 382) Dhammapāla describes Udena as Vajjirājā. This is probably a mistake, for nowhere is Udena, who was king of the Vatsas (or Vaṁsas), called the king of the Vajjīs. The Vajjī are mentioned in the Mahā Nāradakassapajātaka (Ja 544). It is significant that the first great schism in the Buddhist Saṅgha arose in Vajjī, when the Vajjiputtakā brought forward their Ten Points. Even during the Buddha’s lifetime some monks of Vajjī joined Devadatta (Vin.ii.199f).

According to Xuanzang (Beal-Xuan: op.cit., 77), who visited it, the Vajjī (Vṛji) country was broad from east to west and narrow from north to south. The people of the neighbouring countries were called Saṁvajji, or United Vajjīs. For details see Cunningham, Ancient Geography of India. 512ff. The Commentaries contain a mythical account of the origin of the name Vajjī. See Licchavī.

Vajjī, Vajjīs, Vajjians. Tên của một quốc gia và người dân của quốc gia đó. Đây là một trong mười sáu Mahā Janapadas. Cư dân dường như bao gồm nhiều bộ tộc liên minh, trong đó LicchavīVideha là chủ đạo. Một đoạn trong các Chú giải (e.g., DN­a.ii.519) — ghi rằng trong số những người có trách nhiệm quản lý tư pháp ở nước Vajjī (xem Licchavī) có Aṭṭhakulakā — đã dẫn đến suy đoán rằng Aṭṭhakulakā có nghĩa là thủ lĩnh của tám tộc hợp thành liên minh Vajjī. Không có bằng chứng nào khác về số lượng các tộc. Các Aṭṭhakulakā có lẽ là một ủy ban tư pháp.

Theo thời gian, Licchavī trở thành tộc hùng mạnh nhất trong số các tộc này (Licchavī Vajjiraṭṭhavāsīhi pasatthā) (e.g., MN­a.i.394), và các tên Vajjī và Licchavī thường đồng nghĩa với nhau. Xem Licchavī; trong Trikandaseṣa, được Cunningham trích dẫn (Ancient Geography of India. 509), Licchavī, VaidehaTirabhukti là đồng nghĩa. Trong một đoạn (AN.iii.76), Licchavī Mahā Nāma, khi thấy một nhóm Licchavī trẻ vừa đi săn về tụ tập quanh Đức Phật, được mô tả là nói rằng: "Những Licchavī này rồi sẽ trở thành người Vajjī" (bhavissanti Vajjī). Điều này có lẽ chỉ có nghĩa là có hy vọng lớn là những thanh niên này sẽ trở thành những người Vajjī đích thực, thực hành bảy điều kiện phúc lợi mà Đức Phật đã dạy, những điều kiện đảm bảo sự thịnh vượng của họ. Nhưng xem GS.iii.62, n.1 and 3.

Vesālī là thủ đô của người Licchavī và Mithilā là của người Videha. Vào thời Gotama Buddha, cả Vesālī và Mithilā đều là các nền cộng hòa, dù Mithilā trước đây đã là một vương quốc dưới triều đại Janaka.

Vào thời Đức Phật, và ngay cả cho đến khi Ngài viên tịch, người Vajjī là một cộng đồng rất thịnh vượng và hạnh phúc. Đức Phật quy nguyên nhân điều này cho việc họ thực hành bảy điều kiện phúc lợi mà Ngài đã dạy họ tại cetiya Sārandada. Chi tiết về lời dạy này và nhiều vấn đề khác liên quan đến Vajjī được trình bày dưới mục Licchavī. Nhưng không lâu sau khi Đức Phật viên tịch (ba năm sau lần viếng thăm cuối cùng của Đức Phật tại Vesālī, theo Buddhaghosa, DN­a.ii.522), Ajātasattu, với sự giúp đỡ của quan đại thần Vassakāra, đã gieo bất hòa trong hàng ngũ người Vajjī và chinh phục lãnh thổ của họ.

Đức Phật đã nhiều lần đi qua vùng đất Vajjī, tuyến đường thông thường là qua Kosala, Malla, Vajjī, Kāsi, Magadha, rồi trở về (See, e.g., SN.v.348), và Ngài thuyết pháp cho dân chúng, phần lớn tại Kūṭāgārasālā ở Vesālī. Trong số các địa danh ngoài Vesālī mà Đức Phật đã viếng thăm, có đề cập đến Ukkācelā, Koṭigāma (see, e.g., Ja.ii.232, nơi được gọi là một làng của người Vajjī, trên bờ sông Ganges), Nādikā (trong đó có Giñjakāvasatha và Gosiṅgasālavana), Beluvagāma (hay Veḷuvagāma), Bhaṇḍagāma, Bhogagāma và Hatthigāma. Pubbavijjhana, quê hương của Channa, cũng được đề cập là một làng của người Vajjī (SN.iv.59). Sông Vaggumudā chảy qua lãnh thổ Vajjī (Ud.iii.3).

Trong một ngữ cảnh (Ud­a., p. 382), Dhammapāla mô tả UdenaVajjirājā. Đây có lẽ là một sự nhầm lẫn, vì Udena, vốn là vua của người Vatsas (hay Vaṁsas), không bao giờ được gọi là vua của người Vajjī. Người Vajjī được đề cập trong Mahā Nāradakassapajātaka (Ja 544). Đáng chú ý là cuộc ly giáo lớn đầu tiên trong Tăng đoàn Phật giáo nổ ra ở Vajjī, khi những Vajjiputtakā đưa ra Mười Điều của họ. Ngay cả trong thời Đức Phật còn sống, một số tỳ-kheo ở Vajjī đã theo Devadatta (Vin.ii.199f).

Theo Xuanzang (Beal-Xuan: op.cit., 77), người đã đến thăm nơi đây, vùng đất Vajjī (Vṛji) rộng từ đông sang tây và hẹp từ bắc xuống nam. Người dân ở các nước lân cận được gọi là Saṁvajji, hay Liên minh Vajjī. Để biết chi tiết, xem Cunningham, Ancient Geography of India. 512ff. Các Chú giải chứa một tường thuật thần thoại về nguồn gốc của tên Vajjī. Xem Licchavī.