Mahā Nāma draft, redirect

1. Mahā Nāma draft

Mahā Nāma. A lake in Nāgadīpa. Near it was the Mucalindavana. Ras.ii.18; see also Naga.

Mahā Nāma. Một hồ nước ở Nāgadīpa. Gần đó có Mucalindavana. Ras.ii.18; xem thêm Naga.

01. Mahā Nāma 01 draft

Mahā Nāma 01. Mahā Nāma Thera. He was born in a Brahmin family of Sāvatthī, and, after hearing the Buddha preach, entered the Saṅgha. Taking a formula of meditation, he dwelt on the hill called Nesādaka. Unable to prevent the rising of evil thoughts, he was disgusted with himself, and climbing a steep crag, made as if to throw himself down, and evoking insight became an Arahant.

In the time of Sumedha Buddha he was a Brahmin teacher skilled in the Vedas, and the Buddha visited him in his hermitage on the banks of the Sindhū and was given honey by him (Thag­a.vs.115; Thag­a.i.227ff). Mahā Nāma is probably identical with Madhudāyaka Thera of the Apadāna. Ap.ii.325f.

Mahā Nāma 01. Mahā Nāma Thera. Ông sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn ở Sāvatthī, và, sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp, đã gia nhập Tăng đoàn. Chọn lấy một đề mục thiền định, ông cư ngụ trên ngọn đồi có tên là Nesādaka. Không thể ngăn chặn sự trỗi dậy của những ác niệm, ông cảm thấy ghê tởm bản thân mình, và leo lên một vách đá dựng đứng, làm như thể sẽ gieo mình xuống, và khơi dậy tuệ giác, đã trở thành một vị Arahant.

Vào thời kỳ của Sumedha Buddha ông là một đạo sư Bà-la-môn tinh thông kinh Veda, và Đức Phật đã đến thăm ông trong am thất của ông trên bờ sông Sindhū và được ông cúng dường mật ong (Thag­a.vs.115; Thag­a.i.227ff). Mahā Nāma có lẽ cũng chính là Madhudāyaka Thera của Apadāna. Ap.ii.325f.

02. Mahā Nāma 02 draft

Mahā Nāma 02. Mahā Nāma Thera. One of the Pañcavaggiyā (Ja.i.82). He became a Sotāpanna on the third day after the preaching of the Dhammacakkappavattanasutta. He became an Arahant on the day of the preaching of the Anattalakkhaṇasutta, together with the other Pañcavaggiyā (AN­a.i.84; MN­a.i.390).

Mahā Nāma once visited Macchikāsaṇḍa, and there Citta gahapati, seeing him beg for alms and pleased with his bearing, invited him to his house, gave him a meal, and listened to a sermon by him. Citta was greatly pleased, and offered his pleasure garden of Ambāṭakavana to Mahā Nāma as a gift to the Saṅgha and built there a great monastery. Dhp­a.ii.74.

Mahā Nāma 02. Mahā Nāma Thera. Một trong nhóm Pañcavaggiyā (Ja.i.82). Ông đã trở thành một Sotāpanna vào ngày thứ ba sau buổi thuyết giảng Dhammacakkappavattanasutta. Ông đã trở thành một Arahant vào ngày thuyết giảng Anattalakkhaṇasutta, cùng với những vị Pañcavaggiyā khác (AN­a.i.84; MN­a.i.390).

Mahā Nāma từng đến thăm Macchikāsaṇḍa, và ở đó gahapati Citta, nhìn thấy ông đang đi khất thực và hài lòng với phong thái của ông, đã mời ông đến nhà mình, cúng dường cho ông một bữa ăn, và lắng nghe một bài pháp thoại do ông thuyết giảng. Citta vô cùng hài lòng, và đã dâng cúng khu vườn thượng uyển Ambāṭakavana của mình cho Mahā Nāma như một món quà dành cho Tăng đoàn và đã xây dựng một tu viện lớn ở đó. Dhp­a.ii.74.

03. Mahā Nāma 03 draft

Mahā Nāma 03. A Sākiyan rājā, son of Amitodana; he was elder brother of Anuruddha and cousin of Gotama Buddha. When the Sākiyan families of Kapilavatthu sent their representatives to join the Saṅgha of their distinguished kinsman, Mahā Nāma allowed Anuruddha to leave the household, he knowing nothing of household affairs. Vin.ii.180f.; Dhp­a.i.133; iv.124, etc.; but according to Northern sources (Rockhill, p. 13) he was son of Dronodana; according to Thag­a. (ii.123) Ānanda was a brother (or, at least, a step-brother) of Mahā Nāma, for there Ānanda’s father is given as Amitodana. But see MN­a.i.289, where Mahā Nāma’s father is called Sukkodana and Ānanda’s Amitodana.

Mahā Nāma showed great generosity to the Saṅgha, and was proclaimed best of those who gave choice alms to the monks (AN.i.26). Once, with the Buddha’s permission, he supplied the Saṅgha with medicaments for three periods of four months each. The Chabbaggiyā, always intent on mischief, tried in vain to discourage him. Vin.iv.101; AN­a. (i.213) adds that this was during the period of want experienced by the Buddha and his monks at Verañjā. At the end of the year, Mahā Nāma wished to continue the supply of good food to the Buddha and his monks, but the Buddha refused his permission.

Mahā Nāma was a devoted follower of the Buddha and wished to understand the Dhamma. The books record several conversations between him and the Buddha, and Ānanda, Godha, and Lomasavaṅgīsa (see Mahā Nāmasutta and Lomasavaṅgīsa). Once when the Buddha arrived at Kapilavatthu he asked Mahā Nāma to find him lodging for the night. Mahā Nāma tried everywhere without success, and finally suggested that the Buddha should spend the night in the hermitage of Bharaṇḍu Kāḷāma (SN.v.327f). This he did, and was joined there the next morning by Mahā Nāma; as a result of the discussion between the Buddha, Mahā Nāma and Bharaṇḍu, the last-named left Kapilavatthu never to return. On another occasion, Mahā Nāma visited the Buddha at Nigrodhārāma where the Buddha was convalescing after a severe illness, and at once Mahā Nāma asked a question as to whether concentration followed or preceded knowledge. Ānanda, who was present, not wishing the Buddha to be troubled, took Mahā Nāma aside and explained to him the Buddha’s teachings on the subject. See Sakkasutta (SN.i.219f.).

Mahā Nāma had a daughter Vāsabhakhattiyā, born to him by a slave-girl named Nāgamuṇḍā, and when Pasenadi asked the Sākiyans to give him in marriage a Sākiyan maiden they met in the Mote Hall, and, following the advice of Mahā Nāma, sent Vāsabhakhattiyā to him. In order to allay any suspicions, Mahā Nāma sat down to a meal with her, taking one mouthful from the same dish; but before he could swallow it a messenger arrived, as secretly arranged, and summoned him away. He left, asking Vāsabhakhattiyā to continue her meal (Dhp­a.i.345f.; Ja.i.133; iv. 145f).

See also the Cūḷa Dukkhakkhandhasutta and Sekhasutta, both preached to Mahā Nāma.

His resolve to attain to eminence as the best distributor of pleasant food to the monks was made in the time of Padumuttara Buddha. He was then a householder of Haṁsavatī and heard the Buddha confer a similar rank on a monk (AN­a.i.213).

Mahā Nāma is included in a list of exemplary lay devotees (AN.iii.451). The Samantapāsādikā (Vin-a.iv.857) adds that Mahā Nāma was one month older than the Buddha and that he was a Sakadāgāmī.

Mahā Nāma 03. Một vị rājā người Sākiya, con trai của Amitodana; ông là anh trai của Anuruddha và là anh em họ của Gotama Buddha. Khi các gia đình Sākiya ở Kapilavatthu cử đại diện của họ đến gia nhập Tăng đoàn của vị người thân xuất chúng của họ, Mahā Nāma đã cho phép Anuruddha rời khỏi gia đình, vì ông biết không có bất kỳ điều gì về những công việc trong gia đình. Vin.ii.180f.; Dhp­a.i.133; iv.124, etc.; nhưng theo các nguồn tài liệu phương Bắc (Rockhill, p. 13) thì ông là con trai của Dronodana; theo Thag­a. (ii.123) Ānanda là một người anh em trai (hoặc, ít nhất là, một người anh em cùng cha khác mẹ/cùng mẹ khác cha) của Mahā Nāma, vì ở đó cha của Ānanda được đưa ra là Amitodana. Nhưng xem MN­a.i.289, nơi cha của Mahā Nāma được gọi là Sukkodana và cha của Ānanda là Amitodana.

Mahā Nāma đã thể hiện sự hào phóng to lớn đối với Tăng đoàn, và đã được tuyên bố là người đệ tử xuất sắc nhất trong số những người cúng dường những món khất thực thượng hạng cho các tỳ-kheo (AN.i.26). Một lần nọ, với sự cho phép của Đức Phật, ông đã cung cấp thuốc men cho Tăng đoàn trong ba khoảng thời gian, mỗi khoảng thời gian kéo dài bốn tháng. Nhóm Chabbaggiyā, luôn chú tâm vào việc quấy phá, đã cố gắng một cách vô ích để làm ông thoái chí. Vin.iv.101; AN­a. (i.213) nói thêm rằng điều này đã diễn ra trong khoảng thời gian Đức Phật và các tỳ-kheo của ngài đang trải qua sự thiếu thốn tại Verañjā. Vào cuối năm đó, Mahā Nāma mong muốn được tiếp tục cung cấp những thức ăn ngon cho Đức Phật và các tỳ-kheo của ngài, nhưng Đức Phật đã từ chối sự cho phép của ngài.

Mahā Nāma là một tín đồ tận tụy của Đức Phật và mong muốn được thấu hiểu Pháp. Các kinh điển có ghi lại vài cuộc đàm đạo giữa ông và Đức Phật, và Ānanda, Godha, cùng Lomasavaṅgīsa (xem Mahā Nāmasutta và Lomasavaṅgīsa). Một lần nọ khi Đức Phật đến Kapilavatthu, ngài đã yêu cầu Mahā Nāma tìm cho ngài một chỗ nghỉ qua đêm. Mahā Nāma đã cố gắng ở khắp mọi nơi mà không thành công, và cuối cùng đã đề xuất rằng Đức Phật nên qua đêm trong am thất của Bharaṇḍu Kāḷāma (SN.v.327f). Ngài đã làm điều này, và sáng hôm sau Mahā Nāma đã đến gặp ngài ở đó; như một kết quả của cuộc đàm đạo giữa Đức Phật, Mahā Nāma và Bharaṇḍu, người được nhắc đến cuối cùng đã rời khỏi Kapilavatthu để không bao giờ quay trở lại. Trong một dịp khác, Mahā Nāma đã đến thăm Đức Phật tại Nigrodhārāma nơi Đức Phật đang dưỡng bệnh sau một trận ốm nặng, và ngay lập tức Mahā Nāma đã đặt một câu hỏi về việc liệu sự định tâm diễn ra sau hay trước trí tuệ. Ānanda, người cũng có mặt ở đó, không muốn Đức Phật bị quấy rầy, đã đưa Mahā Nāma sang một bên và giải thích cho ông nghe những lời dạy của Đức Phật về chủ đề này. Xem Sakkasutta (SN.i.219f.).

Mahā Nāma có một cô con gái là Vāsabhakhattiyā, do một nữ tì tên là Nāgamuṇḍā sinh ra cho ông, và khi Pasenadi yêu cầu những người Sākiya gả cho ông ta một thiếu nữ Sākiya, họ đã họp tại Mote Hall và, làm theo lời khuyên của Mahā Nāma, đã gả Vāsabhakhattiyā cho ông ta. Nhằm làm xoa dịu mọi sự nghi ngờ, Mahā Nāma đã ngồi xuống dùng bữa với cô, ăn một miếng từ cùng một đĩa thức ăn; nhưng trước khi ông kịp nuốt nó thì một người đưa tin đã đến, theo như sự sắp đặt bí mật, và gọi ông đi. Ông rời đi, yêu cầu Vāsabhakhattiyā hãy tiếp tục dùng bữa (Dhp­a.i.345f.; Ja.i.133; iv. 145f).

Xem thêm Cūḷa DukkhakkhandhasuttaSekhasutta, cả hai đều được thuyết giảng cho Mahā Nāma.

Quyết tâm đắc được sự lỗi lạc của ông với tư cách là người phân phát thức ăn ngon xuất sắc nhất cho các tỳ-kheo đã được lập vào thời kỳ của Padumuttara Buddha. Khi đó ông là một gia chủ ở Haṁsavatī và đã nghe Đức Phật phong một vị trí tương tự cho một tỳ-kheo (AN­a.i.213).

Mahā Nāma được bao gồm trong một danh sách những nam cư sĩ đệ tử gương mẫu (AN.iii.451). Samantapāsādikā (Vin-a.iv.857) nói thêm rằng Mahā Nāma lớn hơn Đức Phật một tháng tuổi và ông là một vị Sakadāgāmī.

04. Mahā Nāma 04 draft

Mahā Nāma 04. A Licchavī. One day while walking about in the Mahā Vana in Vesālī he saw some young Licchavīs paying homage to the Buddha and accused them of inconsistency. For details see the Kumārasutta (AN.iii.75ff.).

Mahā Nāma 04. Một người Licchavi. Một ngày nọ khi đang đi dạo trong Mahā VanaVesālī, ông đã nhìn thấy một số người Licchavi trẻ tuổi đang bày tỏ lòng tôn kính đối với Đức Phật và đã buộc tội họ về sự không nhất quán. Để biết thêm chi tiết, hãy xem Kumārasutta (AN.iii.75ff.).

05. Mahā Nāma 05 draft

Mahā Nāma 05. King of Ceylon. He was the younger brother of Upatissa II. and was for some time a monk, but he carried on an intrigue with Upatissa’s wife, and she killed her husband. Then Mahā Nāma became a layman, assumed the sovereignty, and married Upatissa’s queen. He built refuges for the sick, enlarged the Mahā Pāli Hall, and erected the Lohadvāra, Ralaggāma, and Koṭipassāvana vihāras, which he gave to the monks of Abhayagiri a vihāra which he built on the Dhūmarakkha mountain, he gave, at the instigation of his queen, to the monks of Mahā Vihāra. He ruled for twenty-two years (409-31 CE.). It was during his reign that Buddhaghosa arrived in Ceylon and wrote his Commentaries, dwelling in a vihāra given by the king. Cv.xxxvii.209ff.; see also PLC. 96. The king seems to have also been called Sirinivāsa and Sirikuḍḍa.

Mahā Nāma 05. Vua của Tích Lan. Ông là em trai của Upatissa II. và đã từng là một tỳ-kheo trong một khoảng thời gian, nhưng ông đã có quan hệ tư tình với vợ của Upatissa, và bà ta đã giết chồng mình. Sau đó Mahā Nāma đã trở thành một cư sĩ, đảm nhận quyền cai trị tối cao, và kết hôn với hoàng hậu của Upatissa. Ông đã xây dựng những nơi nương tựa dành cho người bệnh, mở rộng Hội trường Mahā Pāli, và dựng lên các vihāra Lohadvāra, Ralaggāma, và Koṭipassāvana, những nơi mà ông đã trao cho các tỳ-kheo của Abhayagiri; một vihāra mà ông đã xây dựng trên ngọn núi Dhūmarakkha, ông đã trao nó, do sự xúi giục của hoàng hậu của mình, cho các tỳ-kheo của Mahā Vihāra. Ông trị vì trong hai mươi hai năm (409-31 CN.). Chính trong suốt triều đại của ông, Buddhaghosa đã đặt chân đến Tích Lan và viết nên những Chú giải của ngài, cư ngụ trong một vihāra do nhà vua trao tặng. Cv.xxxvii.209ff.; xem thêm PLC. 96. Nhà vua dường như cũng được gọi là SirinivāsaSirikuḍḍa.

06. Mahā Nāma 06 draft

Mahā Nāma 06. Incumbent of Dīghasaṇḍa (or Dīghāsana) Vihāra (Cv.xxxix.42). He is generally identified with the uncle of Dhātusena mentioned elsewhere (Cv.xxxviii.16). Moggallāna I. built for him the Pabbatavihāra (Cv.xxxix.42). Mahā Nāma is generally regarded as the author of the older part of the Mahā Vaṁsa. Mhv­ṭ. 687; e.g., in Gv.61, 66; Svd.1266; for a discussion on this see PLC.139ff.

Mahā Nāma 06. Vị sư trụ trì của Vihāra Dīghasaṇḍa (hoặc Dīghāsana) (Cv.xxxix.42). Ông thường được đồng nhất với người chú của Dhātusena được đề cập ở một nơi khác (Cv.xxxviii.16). Moggallāna I. đã xây dựng cho ông Pabbatavihāra (Cv.xxxix.42). Mahā Nāma thường được coi là tác giả của phần cũ hơn trong Mahā Vaṁsa. Mhv­ṭ. 687; e.g., trong Gv.61, 66; Svd.1266; for a discussion on this see PLC.139ff.

07. Mahā Nāma 07 draft

Mahā Nāma 07. Author of the Saddhammappakāsanī Commentary on the Paṭisambhidāmagga (Gv.61; Svd.1196). The colophon to the book (Paṭis-a.526) states that he lived in the Uttaramanti pariveṇa in the Mahā Vihāra and finished his work in the third year after the death of Moggallāna (probably Moggallāna I.). The Gandhavaṁsa (Gv.70) says that the work was written at the request of an upāsaka, also named Mahā Nāma.

Mahā Nāma 07. Tác giả của Saddhammappakāsanī, Chú giải về Paṭisambhidāmagga (Gv.61; Svd.1196). Đoạn kết của cuốn sách (Paṭis-a.526) có ghi rằng ông đã sống trong pariveṇa Uttaramanti ở Mahā Vihāra và đã hoàn thành tác phẩm của mình vào năm thứ ba sau sự ra đi của Moggallāna (có lẽ là Moggallāna I.). Gandhavaṁsa (Gv.70) nói rằng tác phẩm đã được viết theo lời yêu cầu của một vị upāsaka, cũng có tên là Mahā Nāma.

08. Mahā Nāma 08 redirect

Redirect target: Mahā Nanda

Mahā Nāma 08. See Mahā Nanda.

Chưa dịch.