Dhammacakkappavattanasutta draft
Dhammacakkappavattanasutta. Name of the first sermon, preached by the Buddha, to the Pañcavaggiyas at the Migadāya in Isipatana, on the full-moon day of Āsāḷha. The Sutta contains the fundamental principles of the Buddha’s teaching – the avoidance of the two extremes of asceticism and luxury and the four Ariyan truths including the Ariyan Eightfold Way.
There was great rejoicing throughout the Cakkavāḷa at the preaching of the sermon, and at its conclusion Koṇḍañña attained to realisation of the Truth – hence his name, Aññā Koṇḍañña. Vin.i.10f; the Sutta is also given in SN.v.420ff; in neither context is the name of the Sutta given as such; the name occurs only in the Commentaries – e.g., Ja.i.82; DNa.i.2; ANa.i.69, etc; the Sanskrit version is found in Lal.540 (416)f., and in Mvu.iii.330f.
The sermon was later preached by the Majjhima Thera in the Himālaya country, when eighty thousand crores of beings understood the Dhamma (Mhv.xii.41; Dpv.viii.11).
It was also preached by Mahinda in Ceylon in the Nandanavana, when one thousand persons were converted. Mhv.xv.200; Dpv.xiv.46, etc.
Dhammacakkappavattanasutta. Tên bài pháp đầu tiên, được Đức Phật thuyết, cho nhóm Pañcavaggiya tại Migadāya ở Isipatana, vào ngày trăng tròn của tháng Āsāḷha. Sutta này chứa đựng những nguyên lý cơ bản trong lời dạy của Đức Phật – sự từ bỏ hai cực đoan là khổ hạnh và xa hoa cùng với Bốn sự thật thuộc bậc Thánh (Bốn Thánh đế) bao gồm Bát Thánh đạo.
Có sự hoan hỷ lớn lao trên khắp Cakkavāḷa khi bài pháp này được thuyết, và khi kết thúc bài pháp Koṇḍañña đã đạt được sự liễu ngộ Sự Thật – từ đó ngài có tên là Aññā Koṇḍañña. Vin.i.10f; Sutta này cũng được đưa ra trong SN.v.420ff; trong cả hai ngữ cảnh tên của Sutta không được đưa ra như vậy; cái tên này chỉ xuất hiện trong các bản Chú giải – vd., Ja.i.82; DNa.i.2; ANa.i.69, v.v; phiên bản tiếng Sanskrit được tìm thấy trong Lal.540 (416)f., và trong Mvu.iii.330f.
Bài pháp này sau đó đã được Majjhima Thera thuyết giảng ở vùng đất Himālaya, khi tám vạn crore chúng sinh đã thấu hiểu Pháp (Mhv.xii.41; Dpv.viii.11).
Nó cũng được Mahinda thuyết giảng ở Tích Lan tại Nandanavana, khi một nghìn người đã được nhiếp phục. Mhv.xv.200; Dpv.xiv.46, v.v.