Nāgadīpa draft

Nāgadīpa. A province of Ceylon, identified with the modern Jaffna peninsula and the north west of Ceylon.

The Buddha’s second visit to Ceylon was to Nāgadīpa, to settle a dispute between two Nāgas, Mahodara and Cūḷodara (Mhv.i.47).

Jambukola (q.v.) was a harbour in Nāgadīpa, and there a vihāra was built by Devānampiyatissa (Mhv.xx.25) and later restored by Kaniṭṭhatissa (Mhv.xxxvi.9). This vihāra was probably called Tissavihāra (see Mhv.36).

Another vihāra, called Sālipabbata, was built by Mahallaka Nāga (Mhv.xxxv.124). The Uṇṇalomaghara, the Rājāyatanadhātucetiya and the Amalacetiya were probably all places of worship in Nāgadīpa (Cv.xlii.62).

The Valāhassajātaka (Ja 196, Ja.ii.128) says that the coast of Ceylon, from the river Kalyāṇī to Nāgadīpa, was once infested by yakkhinis. Once (Ja.iii.187) Nāgadīpa was known as Serumadīpa, and near by was Karadīpa, earlier known as Ahidīpa (Ja.iv.238).

An old story, given in the Commentaries (e.g., Vibh­a.444), speaks of a king called Dīparāga, who reigned over Nāgadīpa in great splendour. Nāgadīpa was once an important centre of Buddhism in Ceylon (e.g., Vibh­a.446, Vibh­a.467; AN­a.i.422. MN­a.i.545; see also JRAS., vol. xxvi) and contained many places of pilgrimage. There is a legend (DN­a.iii.899; Vibh­a.433) which relates that, when the Buddha’s Sāsana comes to an end, all the Buddha’s relics in Ceylon will gather together at the Mahā Cetiya and travel to the Rājāyatanacetiya in Nāgadīpa, and then from there to the Mahā Bodhi-tree at Gayā.

According to the Rasavāhinī (ii.19) the place was so-called because it was given as gift to the woman named Nāgā. See Nāgā (7).

Nāgadīpa. Một tỉnh của Tích Lan, được đồng nhất với bán đảo Jaffna ngày nay và vùng tây bắc Tích Lan.

Chuyến viếng thăm thứ hai của Đức Phật đến Tích Lan là tới Nāgadīpa, để giải quyết một cuộc tranh chấp giữa hai thủ lĩnh Nāga, MahodaraCūḷodara (Mhv.i.47).

Jambukola (xem từ này) là một bến cảng ở Nāgadīpa, và tại đó một vihāra (tu viện) đã được Devānampiyatissa xây dựng (Mhv.xx.25) và sau đó được Kaniṭṭhatissa trùng tu (Mhv.xxxvi.9). Vihāra này có lẽ được gọi là Tissavihāra (xem Mhv.36).

Một vihāra khác, có tên là Sālipabbata, được xây dựng bởi Mahallaka Nāga (Mhv.xxxv.124). Uṇṇalomaghara, Rājāyatanadhātucetiya và Amalacetiya có lẽ đều là những nơi thờ phụng ở Nāgadīpa (Cv.xlii.62).

Valāhassajātaka (Ja 196, Ja.ii.128) nói rằng bờ biển Tích Lan, từ dòng sông Kalyāṇī đến Nāgadīpa, đã từng tràn ngập các dạ-xoa nữ (yakkhinī). Có lần (Ja.iii.187) Nāgadīpa được biết đến với tên gọi là Serumadīpa, và gần đó là Karadīpa, trước đây được biết đến là Ahidīpa (Ja.iv.238).

Một câu chuyện cổ, được kể trong các Chú giải (ví dụ, Vibh­a.444), nói về một vị vua có tên là Dīparāga, người đã trị vì Nāgadīpa trong một thời kỳ vô cùng huy hoàng. Nāgadīpa đã từng là một trung tâm Phật giáo quan trọng ở Tích Lan (ví dụ, Vibh­a.446, Vibh­a.467; AN­a.i.422. MN­a.i.545; xem thêm JRAS., tập xxvi) và có chứa nhiều địa điểm hành hương. Có một truyền thuyết (DN­a.iii.899; Vibh­a.433) kể rằng, khi Sāsana (Giáo pháp) của Đức Phật đi đến hồi kết, tất cả các xá-lợi của Đức Phật ở Tích Lan sẽ tập trung lại tại Mahā Cetiya và di chuyển đến Rājāyatanacetiya ở Nāgadīpa, rồi từ đó đi đến cây Mahā BodhiGayā.

Theo Rasavāhinī (ii.19), địa điểm này được gọi như vậy vì nó được ban tặng như một món quà cho người phụ nữ tên là Nāgā. Xem Nāgā (7).