Pañcāla draft

Pañcāla, Pañcālajanapada, Pañcālaraṭṭha, Pañcālā. One of the sixteen Mahā Janapadas (AN.i.213; iv.252, etc.). It consisted of two divisions: Uttara Pañcāla and Dakkhiṇa Pañcāla. The river Bhagīrathi formed the boundary between the divisions. According to the Kumbhakārajātaka (Ja 408), the capital of Uttara Pañcāla was Kampillanagara, where a king named Dummukha once reigned. Ja.iii.379; also Mvu.iii.26; but the Divyāvadāna (435) calls the capital Hastināpura. According to the Mahā Bhārata (i.138, 73-4), the capital was Ahicchatra or Chatravatī, while the capital of Dakṣina Pañcāla was Kāmpilya.

Pañcāla was to the east of the Kuru country, and, in ancient times, there seems to have been a constant struggle between the Kurus and the Pañcālas for the possession of Uttara Pañcāla. Thus, sometimes, Uttara Pañcāla was included in the Kuru kingdom (e.g., Ja.v.444; also Mahā Bhārata i.138), but at other times it formed a part of Kampillaraṭṭha (e.g., Ja.iii.79; v. 21, 289) Kampilla probably being the capital of Dakkhiṇa Pañcāla. So it happened that sometimes the kings of Kampillaraṭṭha had their capital in Uttara Pañcālanagara, while at others the kings of Uttara Pañcālanagara had their capital in Kampillanagara. Cūḷanī Brahmadatta is described in the Mahā Ummaggajātaka (Ja 546) as king of Pañcāla, with his capital in Kampilla. Ja.vi.329, 396, etc.; also Pv-a. 161; see also Uttarādhiyayana Sūtra (SBE. xlv. 57-61) and the Rāmāyaṇa (i.32).

Similarly Sambhūta was king of Uttara Pañcāla (Ja.iv.392ff.). Sometimes the king of Pañcāla is merely spoken of as Pañcāla e.g., Ja.iv.430, v. 98. See also Jayaddisa.

There seems to have been a chieftain (rājā) of Pañcāla even in the Buddha’s day, for we are told (Thag­a.i.331) that Visākha Pañcāliputta (q.v.) was the son of the daughter of the “Pañcālarājā.” Pañcāla is generally identified with the country to the north and west of Deḷhi, from the foot of the Himālaya to the river Chambal. Law: Geography of Early Buddhism, p.19.

Pañcāla, Pañcālajanapada, Pañcālaraṭṭha, Pañcālā. Một trong mười sáu Mahā Janapadas (AN.i.213; iv.252, v.v.). Nó bao gồm hai khu vực: Uttara Pañcāla và Dakkhiṇa Pañcāla. Sông Bhagīrathi tạo thành ranh giới giữa các khu vực này. Theo Kumbhakārajātaka (Ja 408), thủ đô của Uttara Pañcāla là Kampillanagara, nơi một vị vua tên là Dummukha từng trị vì. Ja.iii.379; xem thêm Mvu.iii.26; nhưng Divyāvadāna (435) gọi thủ đô là Hastināpura. Theo Mahā Bhārata (i.138, 73-4), thủ đô là Ahicchatra hoặc Chatravatī, trong khi thủ đô của Dakṣina Pañcāla là Kāmpilya.

Pañcāla nằm ở phía đông của quốc gia Kuru, và vào thời cổ đại, dường như đã có một cuộc đấu tranh liên tục giữa những người Kuru và những người Pañcāla để giành quyền kiểm soát Uttara Pañcāla. Do đó, đôi khi, Uttara Pañcāla được bao gồm trong vương quốc Kuru (ví dụ, Ja.v.444; xem thêm Mahā Bhārata i.138), nhưng vào những thời điểm khác, nó lại tạo thành một phần của Kampillaraṭṭha (ví dụ, Ja.iii.79; v. 21, 289) với Kampilla có lẽ là thủ đô của Dakkhiṇa Pañcāla. Do đó đã xảy ra chuyện đôi khi các vị vua của Kampillaraṭṭha có thủ đô ở Uttara Pañcālanagara, trong khi vào những thời điểm khác, các vị vua của Uttara Pañcālanagara lại có thủ đô ở Kampillanagara. Cūḷanī Brahmadatta được mô tả trong Mahā Ummaggajātaka (Ja 546) là vua của Pañcāla, với thủ đô ở Kampilla. Ja.vi.329, 396, v.v.; xem thêm Pv-a. 161; xem thêm Uttarādhiyayana Sūtra (SBE. xlv. 57-61) và Rāmāyaṇa (i.32).

Tương tự, Sambhūta là vua của Uttara Pañcāla (Ja.iv.392ff.). Đôi khi vị vua của Pañcāla chỉ đơn giản được gọi là Pañcāla, ví dụ, Ja.iv.430, v. 98. Xem thêm Jayaddisa.

Dường như vẫn có một vị thủ lĩnh (rājā) của Pañcāla ngay cả trong thời Đức Phật, vì chúng ta được kể (Thag­a.i.331) rằng Visākha Pañcāliputta (q.v.) là con trai của con gái vị “Pañcālarājā.” Pañcāla thường được đồng nhất với khu vực ở phía bắc và phía tây của Deḷhi, từ chân dãy Himālaya đến sông Chambal. Law: Geography of Early Buddhism, p.19.