Visākha draft, redirect

01. Visākha 01 draft

Visākha 01. Husband of Dhammadinnā. He was a rich merchant of Rājagaha and accompanied Bimbisāra on his visit to Gotama Buddha, who was then at Rājagaha for the first time after his Awakening. Visākha, on that occasion, became a Sotāpanna, after hearing the Buddha preach; he later became a Sakadāgāmī and then an Anāgāmī. After he became an Anāgāmī his behaviour to his wife completely changed, and when he explained to her the reason, offering her all his wealth and freedom to do as she wished, she asked his leave to join the Saṅgha. Visākha informed Bimbisāra of her wish, and, at his request, the king ordered that the city be decked in her honour on the day of her renunciation and that she be taken to the nunnery in a golden palanquin.

After Dhammadinnā had joined the Saṅgha, she left the city and retired into the country, returning to Rājagaha after she had attained Arahant-ship. Visākha, hearing of her return, visited her at the nunnery and asked her various questions regarding the Buddha’s teachings, all of which she answered (MN­a.i.514f.; Thīg­a.15, 19). Their conversation is recorded in the Cūḷa Vedallasutta (MN.i.299f.; cf. Dhp­a.iv.229f.; AN­a.i.197). Visākha then visited the Buddha and reported their conversation to him, winning the Buddha’s praises for Dhammadinnā.

In the time of Phussa Buddha, Visākha and Dhammadinnā had been husband and wife (for details see Pv-a.20ff.; of. Khp-a.202f.; Dhp­a.i.86f. AN­a.i.144f.). Visākha had been the treasurer, appointed by the three sons of Jayasena, in charge of the provisions given by them for the almsgiving held in honour of Phussa Buddha and his monks.

Visākha is mentioned (SN­a.iii.223) as one of the seven lay disciples in the time of the Buddha who had each five hundred followers.

Visākha 01. Chồng của Dhammadinnā. Ông là một thương nhân giàu có của Rājagaha và đã tháp tùng Bimbisāra trong chuyến viếng thăm Gotama Buddha, khi đó ngài đang ở Rājagaha lần đầu tiên sau khi Giác ngộ. Trong dịp đó, Visākha đã trở thành một bậc Sotāpanna sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp; sau này ông trở thành một bậc Sakadāgāmī và sau đó là một bậc Anāgāmī. Sau khi trở thành một bậc Anāgāmī, cách cư xử của ông đối với vợ hoàn toàn thay đổi, và khi ông giải thích cho bà lý do, nhường cho bà toàn bộ tài sản của mình và tự do làm theo ý muốn, bà đã xin phép ông để gia nhập Tăng đoàn. Visākha đã thông báo cho Bimbisāra về mong muốn của bà, và theo yêu cầu của ông, nhà vua đã ra lệnh trang hoàng thành phố để tôn vinh bà vào ngày bà xuất gia và bà được đưa đến ni viện trên một chiếc kiệu vàng.

Sau khi Dhammadinnā gia nhập Tăng đoàn, bà rời khỏi thành phố và lui về vùng nông thôn, và trở lại Rājagaha sau khi đã đạt được quả vị Arahant. Visākha, nghe tin bà trở về, đã đến thăm bà tại ni viện và hỏi bà nhiều câu hỏi khác nhau về giáo pháp của Đức Phật, tất cả đều được bà giải đáp (MN­a.i.514f.; Thīg­a.15, 19). Cuộc trò chuyện của họ được ghi lại trong Cūḷa Vedallasutta (MN.i.299f.; xem thêm Dhp­a.iv.229f.; AN­a.i.197). Sau đó, Visākha đã đến thăm Đức Phật và thuật lại cuộc trò chuyện của họ cho ngài nghe, giành được lời khen ngợi của Đức Phật dành cho Dhammadinnā.

Trong thời của Phussa Buddha, Visākha và Dhammadinnā từng là vợ chồng (để biết chi tiết, xem Pv-a.20ff.; xem thêm Khp-a.202f.; Dhp­a.i.86f. AN­a.i.144f.). Visākha từng là thủ quỹ, được bổ nhiệm bởi ba người con trai của Jayasena, phụ trách các lễ vật do họ chu cấp cho buổi cúng dường được tổ chức để tôn vinh Phussa Buddha và các nhà sư của ngài.

Visākha được nhắc đến (SN­a.iii.223) như là một trong bảy đệ tử cư sĩ vào thời của Đức Phật, mỗi người đều có năm trăm môn đồ.

02. Visākha 02 draft

Visākha 02. Visākha Pañcāliputta. He was son of a provincial governor (maṇḍalikarājā) of Magadha, and was called Pañcāliputta because his mother was the daughter of the Pañcāla king. (AN­a.ii.511 calls him the son of Pañcālibrāhmaṇī). He succeeded his father, and, hearing one day that the Buddha had arrived near his village, he visited him, heard him preach and joined the Saṅgha. He then accompanied the Buddha to Sāvatthī, where he became an Arahant. Later, out of compassion, he visited his relations.

One day he was asked how many qualities were necessary to a man in order that he should be considered a skilful preacher of the Dhamma. Visākha’s answer is included in the Theragāthā (Thag. vs. 209-10; Thag­a.i.331f).

Fourteen kappas ago he was a poor householder, and one day, while searching in the forest for fruit, he saw a Pacceka Buddha and offered him a vallī-fruit. He is evidently to be identified with Valliphaladāyaka of the Apadāna (Ap.i.296).

Visākha was evidently a clever and arresting preacher, and the books mention that the Buddha heard him preach and praised him. SN.ii.280; AN.ii.51.

Visākha 02. Visākha Pañcāliputta. Ông là con trai của một thống đốc tỉnh (maṇḍalikarājā) của Magadha, và được gọi là Pañcāliputta vì mẹ của ông là con gái của vua nước Pañcāla. (AN­a.ii.511 gọi ông là con trai của Pañcālibrāhmaṇī). Ông kế nhiệm cha mình, và một ngày nọ, nghe tin Đức Phật đã đến gần ngôi làng của mình, ông đã đến thăm ngài, nghe ngài thuyết pháp và gia nhập Tăng đoàn. Sau đó, ông đã tháp tùng Đức Phật đến Sāvatthī, nơi ông trở thành một vị Arahant. Về sau, vì lòng bi mẫn, ông đã đi thăm những người thân của mình.

Một ngày nọ, ông được hỏi một người cần có bao nhiêu phẩm chất để được coi là một người thuyết giảng Pháp khéo léo. Câu trả lời của Visākha được đưa vào Theragāthā (Thag. vs. 209-10; Thag­a.i.331f).

Mười bốn kappa trước, ông là một gia chủ nghèo, và một ngày nọ, trong khi đang tìm kiếm trái cây trong rừng, ông đã nhìn thấy một vị Pacceka Buddha và dâng lên ngài một quả vallī. Rõ ràng ông được nhận diện với Valliphaladāyaka của Apadāna (Ap.i.296).

Visākha rõ ràng là một người thuyết giáo thông minh và cuốn hút, và các sách đề cập rằng Đức Phật đã nghe ông thuyết pháp và ca ngợi ông. SN.ii.280; AN.ii.51.

03. Visākha 03 draft

Visākha 03. Visākha Thera. He was a rich householder of Pāṭaliputta who, hearing that there were many shrines in Ceylon, made over his property to his family and left home with one single coin wrapt in the hem of his garment. He had to spend one month at the port waiting for a ship, and, during that time, made one thousand by his skill in trade. Arrived at the Mahā Vihāra, he asked to be ordained, and when, at the time of his ordination, the money was discovered, he distributed it among those who were present. After five years he set out travelling, and, with the help of a Devatā, found his way to Cittalapabbata vihāra, where he stayed for four months. As he was about to leave, the Devatā of the jambu tree which stood at the head of his caṅkamana appeared before him weeping, and explained that while the Thera was there the non-humans lived in peace, but that when he had gone they would start quarrelling and talking loudly. Several times he tried to leave but was thus prevented, until, at last, he became an Arahant and died there. Vsm.i.312f; the story is referred to at AN­a.ii.865.

Visākha 03. Visākha Thera. Ông là một gia chủ giàu có của Pāṭaliputta, người khi nghe nói rằng có nhiều đền tháp ở Tích Lan, đã giao lại tài sản cho gia đình và rời khỏi nhà với một đồng xu duy nhất bọc trong vạt áo. Ông đã phải trải qua một tháng ở cảng để chờ tàu, và trong thời gian đó, kiếm được một ngàn nhờ kỹ năng buôn bán của mình. Khi đến Mahā Vihāra, ông đã xin được xuất gia, và khi đến thời điểm xuất gia của ông, số tiền đó bị phát hiện, ông đã phân phát nó cho những người có mặt. Sau năm năm, ông bắt đầu đi du hành, và với sự giúp đỡ của một thiên nữ, ông đã tìm được đường đến vihāra Cittalapabbata, nơi ông đã lưu lại trong bốn tháng. Ngay khi ông chuẩn bị rời đi, vị thọ thần của cây jambu đứng ở đầu đường kinh hành (caṅkamana) của ông xuất hiện trước mặt ông khóc lóc, và giải thích rằng trong khi vị Trưởng lão ở đó, những người phi nhân sống trong hòa bình, nhưng khi ông rời đi, họ sẽ bắt đầu cãi vã và nói chuyện lớn tiếng. Nhiều lần ông đã cố gắng rời đi nhưng đều bị ngăn cản như vậy, cho đến khi cuối cùng, ông trở thành một vị Arahant và viên tịch ở đó. Vsm.i.312f; câu chuyện được nhắc đến ở AN­a.ii.865.

04. Visākha 04 draft

Visākha 04. One of the chief lay supporters of Maṅgala Buddha. Bv.v.25.

Visākha 04. Một trong những nam cư sĩ hộ độ chính của Maṅgala Buddha. Bv.v.25.

05. Visākha 05 draft

Visākha 05. One of the chief lay supporters of Phussa Buddha. Bv.xix.21.

Visākha 05. Một trong những nam cư sĩ hộ độ chính yếu của Phussa Buddha. Bv.xix.21.

06. Visākha 06 draft

Visākha 06. A minister of Duṭṭhagāmaṇī. He and Sirideva were in charge of the arrangements for the Foundation Ceremony of the Mahā Thūpa. Mhv­ṭ. 517.

Visākha 06. Một đại thần của Duṭṭhagāmaṇī. Ông và Sirideva chịu trách nhiệm về các sự chuẩn bị cho Lễ Đặt Nền Móng của Mahā Thūpa. Mhv­ṭ. 517.

07. Visākha 07 redirect

Visākha 07. See also Vesākha.

Chưa dịch.

01. Visākhā 01 draft

Visākhā 01. One of the chief lay women supporters of Piyadassī Buddha. Bv.xiv.22.

Visākhā 01. Một trong những nữ cư sĩ hộ độ chính của Piyadassī Buddha. Bv.xiv.22.

02. Visākhā 02 draft

Visākhā 02. Mother of Kakusandha Buddha and wife of Aggidatta. Bv.xxiii.58; Ja.i.94; DN.ii.7.

Visākhā 02. Mẹ của Kakusandha Buddha và là vợ của Aggidatta. Bv.xxiii.58; Ja.i.94; DN.ii.7.

03. Visākhā 03 draft

Visākhā 03. One of the five queens of the third Okkāka. DN­a.i.238; Snp­a.i.352; Mhv­ṭ. 131.

Visākhā 03. Một trong năm vương hậu của vị vua Okkāka thứ ba. DN­a.i.238; Snp­a.i.352; Mhv­ṭ. 131.

04. Visākhā 04 draft

Visākhā 04. Visākhā Therī. She belonged to the harem of the Bodhisatta and left the world with Mahā Pajāpatī Gotamī. She received a topic of meditation from the Buddha and in due course won Arahant-ship. A verse uttered by her, admonishing her companions, is included in the Therīgāthā. Thīg.vs.13; Thīg­a.20.

Visākhā 04. Visākhā Therī. Bà thuộc hậu cung của vị Bodhisatta và đã xuất gia cùng với Mahā Pajāpatī Gotamī. Bà nhận được một đề mục thiền định từ Đức Phật và theo thời gian đã đạt được quả vị Arahant. Một bài kệ do bà thốt lên, răn dạy những người bạn đồng tu của mình, được đưa vào Therīgāthā. Thīg.vs.13; Thīg­a.20.

05. Visākhā 05 draft

Visākhā 05. The chief among the female lay disciples of the Buddha and declared by him to be foremost among those who ministered to the Saṅgha (dāyikānaṁ aggā) (AN.i.26; she is considered the ideal lay woman – e.g., AN.iv.348). Her father was Dhanañjaya, son of Meṇḍaka, and her mother Sumanā. She was born in the city of Bhaddiya in Aṅga. When she was seven years old, the Buddha visited Bhaddiya with a large company of monks, out of compassion for the Brahmin Sela and others. Meṇḍaka gave Visākhā five hundred companions, five hundred slaves, and five hundred chariots, that she might visit the Buddha. She stopped the chariots some distance away and approached the Buddha on foot. He preached to her and she became a Sotāpanna. For the next fortnight Meṇḍaka invited the Buddha and his monks daily to his house, where he fed them.

Later, when, at Pasenadi’s request, Bimbisāra sent Dhanañjaya to live in Kosala, Visākhā accompanied her parents and lived in Sāketa. The messengers, sent by Migāra of Sāvatthī to find a suitable bride for his son Puṇṇavaḍḍhana, saw Visākhā on her way to the lake to bathe on a feast day. At that moment there was a great shower. Visākhā’s companions ran for shelter, but Visākhā herself, walking at her usual pace, came to the place where the messengers, already greatly impressed, were awaiting her. When they asked her why she did not run to seek shelter and so preserve her clothes, she answered that she had plenty of clothes in the house, but that if she ran she might damage a limb which would be a great loss. “Unmarried girls,” she said, “are like goods awaiting sale, they must not be disfigured.” The messengers offered her a bouquet of flowers (mālāgulaṁ), which she accepted as a proposal of marriage, and then went on to her father’s house. The messengers followed and laid Puṇṇavaddhana’s suit before Dhanañjaya. The proposal was accepted and confirmed by an exchange of letters.

When Pasenadi heard of it, he offered to accompany Puṇṇavaḍḍhana to Sāketa, as a mark of signal favour. Dhanañjaya welcomed the king and his retinue, Migāra, Puṇṇavaḍḍhana and their followers, with all honour, attending personally to all the details of hospitality. He persuaded the king to stay with him during the rains, providing all that was necessary. According to the Dhammapada Commentary account (loc.cit.) Visākhā superintended all the arrangements.

Five hundred goldsmiths were engaged to make the Mahā Latāpasādhana (ornament), q.v., for the bride; three months passed, but it was still unfinished. The supply of firewood ran out, and orders were given that the wood of dilapidated houses should be used. This wood lasted for a fortnight, and then the storehouses containing cloths were opened, the cloths soaked in oil and used for cooking the food. The ornament was finished in four months. In the time of Kassapa Buddha she gave bowls and robes to twenty thousand monks, also thread and needles and sewing materials; as a result of this, she received her parure in this life (Dhp­a.i.395).

Dhanañjaya gave his daughter, as dowry, five hundred carts full of money, five hundred with vessels of gold, five hundred each of silver, copper, various silks, ghee, rice husked and winnowed; also ploughs, ploughshares, and other farm implements, five hundred carts with three slave-women in each, everything being provided for them. The cattle given by him filled an enclosure three quarters of a league in length and eight rods across, standing shoulder to shoulder, and in addition to these, sixty thousand bulls and sixty thousand milk cows escaped from their stalls and joined the herd already gifted to her. In her birth as Saṅghadāsī, she gave the five products of the cow to twenty thousand monks, begging them to eat; hence the escaping of the cattle for her benefit (Dhp­a.i.397). Visākhā’s relations continued to send her costly gifts even after her marriage. The Udāna (ii.9) contains a story of a dispute she had with the customs officers regarding the duty they levied on one of her presents. She visited Pasenadi several times, trying to get the matter settled; but he had no time to give to the matter, and, in the end, she sought consolation from the Buddha.

When the time came for Visākhā to leave, Dhanañjaya gave her ten admonitions, which Migāra overheard from the next room. These admonitions were:

  • Not to give fire from the house outside;
  • not to take into the house fire from without;
  • to give only to those who give in return;
  • not to give to those who do not give in return;
  • to give to him that gives and to him that gives not;
  • to sit, eat and sleep happily;
  • to tend the fire and to honour household deities.

These riddles were later explained by Visākhā to her father-in-law (Dhp­a.i.403f.). On the following day Dhanañjaya appointed eight householders to be sponsors to his daughter and to enquire into any charges which might be brought against her. When she left, Dhanañjaya allowed any inhabitants of his fourteen tributary villages to accompany her if they so wished. As a result the villages were left empty; but Migāra, fearing that he should have to feed them, drove most of them back. Visākhā entered Sāvatthī standing in her chariot, so that all might see her glory. The citizens showered gifts on her, but these she distributed among the people.

Migāra was a follower of the Nigaṇṭhas, and, soon after Visākhā’s arrival in his house, he sent for them and told her to minister to them. But Visākhā, repulsed by their nudity, refused to pay them homage. The Nigaṇṭhas urged that she should be sent away, but Migāra bided his time.

One day, as Migāra was eating, while Visākhā stood fanning him, a monk was seen standing outside his house. Visākhā stood aside, that Migāra might see him, but as Migāra continued to eat without noticing the monk, she said to the latter, “Pass on, Sir, my father-in-law eats stale fare.” Migāra was angry and threatened to send her away, but, at her request, the matter was referred to her sponsors. They enquired into the several charges brought against her and adjudged her not guilty. Visākhā then gave orders that preparations should be made for her return to her parents. But Migāra begged her forgiveness which she granted, on condition that he would invite to the house the Buddha and his monks. This he did, but, owing to the influence of the Nigaṇṭhas, he left Visākhā to entertain them, and only consented to hear the Buddha’s sermon at the end of the meal from behind a curtain. At the conclusion of this sermon, however, he became a Sotāpanna. His gratitude towards Visākhā was boundless; henceforth she was to be considered as his mother and to receive all the honour due to a mother; from this time onwards she was called Migāramātā. In Dhp­a.i.406 we are told that in order to confirm this declaration, Migāra sucked the breast of Visākhā. This account adds that she had also a son named Migāra; thus there was a double reason for the name. AN­a.i.313 says that Migāra was her eldest son.

Migāra got made for her everyday use an ornament called ghanamaṭṭhaka, at a cost of one hundred thousand (some time after, Visākhā sold the Mahālatāpasādhana and built the Migāramātupāsada). On the day of the presentation of this ornament, Migāra held for her a special festival in her honour, and she was made to bathe in sixteen pots of perfumed water. This account of Visākhā is summarized from Dhp­a.i.384ff.; AN­a.i.219ff. contains a similar account but with far less detail. The Dhammapada Commentary account contains numerous other particulars, some of which are given below.

Visākhā had ten sons and ten daughters, each of whom had a similar number of children, and so on down to the fourth generation. Before her death, at the age of one hundred and twenty, she had eighty-four thousand and twenty direct lineal descendants, all living (but see Ud.viii.8, which speaks of the death of a grand-daughter and of Visākhā’s great grief; this evidently refers to Dattā). She herself kept, all her life, the appearance of a girl of sixteen. She had the strength of five elephants, and it is said that once she took the trunk of an elephant, which was sent to test her, between her two fingers and forced him back on his haunches (Dhp­a.i.409). Visākhā owned such a great reputation for bringing good fortune that the people of Sāvatthī always invited her to their houses on festivals and holidays (Dhp­a.i.409).

Visākhā fed five hundred monks daily at her house (thus, e.g., Ja.iv.144; two thousand, according to Dhp­a.i.128; later she appointed her grand-daughter, probably Dattā, to officiate for her.) In the afternoon she visited the Buddha, and, after listening to his sermon, would go round the monastery inquiring into the needs of the monks and nuns. Because she wished the Saṅgha well she was appointed on the committee set up to enquire into the charge of misbehaviour brought against the mother of Kumāra Kassapa (q.v.); Visākhā’s experience as the mother of several children stood her in good stead. In these rounds she was sometimes accompanied by Suppiyā. For an incident connected with one of these visits, see Suppiyā. The Dhammapada Commentary (Dhp-a.i.100f.) says that once five hundred young men of good family entrusted the care of their wives to Visākhā. On one occasion, when accompanying her to the monastery, they became drunk and committed improprieties in the presence of the Buddha. The Buddha frightened them by emitting a dark-blue ray of light, thus restoring them to their senses. This was the occasion of the preaching of the Kumbhajātaka (Ja 512); see also Ja.v.11f. Visākhā begged for, and was granted, eight boons by the Buddha:

  • that as long as she lived she be allowed to give robes to the members of the Saṅgha for the rainy season;
  • food for monks coming into Sāvatthī;
  • food for those going out;
  • food for the sick;
  • food for those who wait on the sick;
  • medicine for the sick;
  • a constant supply of rice gruel for any needing it;
  • and bathing robes for the nuns.

Probably on account of this boon the monks who had been to see Khadiravaniya Revata (q.v.) visited Visākhā immediately after their return to Sāvatthī; but see the Pīṭhajātaka (Ja 337). This list of boons and Visākhā’s reasons for begging them are given at Vin.i.290ff. According to the Surucijātaka (Ja 489, q.v.), she obtained the boons owing to her virtue in the past as well, e.g., in her birth as Sumedhā (Ja.iv.315ff.); see also Vin.i.296, where the Buddha accepts a face towel as a special gift from Visākhā but would not accept an earthenware foot scrubber (Vin.ii.129f.).

With the construction of the Migāramātupāsāda (q.v.) in the Pubbārāma Visākhā’s ambitions were fulfilled, and it is said (Dhp­a.i.416f) that when the monastery was completed and the festival of opening in progress, as the evening drew on she walked round the monastery accompanied by her children, her grandchildren and her great-grandchildren, and in five stanzas sang her joy, saying, “Now is entirely fulfilled the prayer which I prayed in times of yore.” (The wishes mentioned in these stanzas as having been fulfilled differ from the eight boons mentioned above). The monks heard her sing and told the Buddha; he related to them how, in the time of Padumuttara Buddha, Visākhā had been the friend of the principal women benefactors of that Buddha. In the time of Kassapa Buddha she was Saṅghadāsī, youngest of the seven daughters of Kikī, and for long after her marriage she gave alms and performed other good works with her sisters (AN­a.i.219).

According to the Vihāravimānavatthu (Vv.iv.6; Vv-a.189,191), Visākhā was born, after death, among the Nimmānaratī Devā as the consort of the Deva king Sunimmita.

Buddhaghosa says (DN­a.iii.740) that Visākhā, like Sakka and Anāthapiṇḍika, will enjoy one hundred and thirty-one kappas of happiness in the Brahma-worlds before she finally passes away into Nibbāna.

Among Visākhā’s relations are also mentioned, in addition to her two sons Migajāla and Migāra, a sister Sujātā, who became Anāthapiṇḍika’s daughter-in-law (AN.iv.91; AN­a.ii.724; Ja.ii.347); a grandson, Saḷha (q.v.); a grand-daughter, Dattā, who died (Dhp­a.iii.278): and Uggaha (q.v.), called Meṇḍakanattā. Mention is also made of a grandson of hers on whose behalf she interceded with the Buddha when the monks refused to ordain him during the rainy season (Vin.i.153).

The books contain numerous Suttas preached by the Buddha to Visākhā during her frequent visits to him, chief among such Suttas being the famous discourse on the keeping of the uposatha (AN.i.205ff.; xem thêm iv.255; Dhp­a.iii.58f), the discourse of the eight qualities which win for women power in this world and power and happiness in the next (AN.iv.269), and eight qualities which win for a woman birth among the Manāpakāyika Devas (AN.iv.267).

Visākhā 05. Nữ cư sĩ hộ độ chính yếu của Đức Phật và được ngài tuyên bố là người đứng đầu trong số những người phụng sự Tăng đoàn (dāyikānaṁ aggā) (AN.i.26; bà được coi là nữ cư sĩ lý tưởng – ví dụ, AN.iv.348). Cha bà là Dhanañjaya, con trai của Meṇḍaka, và mẹ bà là Sumanā. Bà sinh ra ở thành phố Bhaddiya thuộc Aṅga. Khi bà lên bảy tuổi, Đức Phật đã đến thăm Bhaddiya cùng với một hội chúng tỳ-kheo lớn, vì lòng bi mẫn đối với Bà-la-môn Sela và những người khác. Meṇḍaka đã cho Visākhā năm trăm người bạn đồng hành, năm trăm nữ tỳ và năm trăm cỗ xe, để bà có thể đến thăm Đức Phật. Bà dừng xe ở một khoảng cách xa và đi bộ đến gần Đức Phật. Ngài thuyết pháp cho bà và bà trở thành một bậc Sotāpanna. Trong hai tuần tiếp theo, Meṇḍaka đã mời Đức Phật và các nhà sư của ngài đến nhà ông mỗi ngày, nơi ông đã thiết đãi họ.

Sau đó, khi, theo yêu cầu của Pasenadi, Bimbisāra đã gửi Dhanañjaya đến sống ở Kosala, Visākhā đã đi cùng cha mẹ và sống ở Sāketa. Những sứ giả, được gửi bởi Migāra của Sāvatthī để tìm một cô dâu phù hợp cho con trai ông là Puṇṇavaḍḍhana, đã nhìn thấy Visākhā trên đường bà đến hồ tắm vào một ngày lễ hội. Ngay lúc đó, có một cơn mưa rào lớn. Những người bạn đồng hành của Visākhā chạy đi tìm chỗ trú, nhưng bản thân Visākhā, vẫn đi với tốc độ bình thường, đã đến nơi các sứ giả, những người vốn đã vô cùng ấn tượng, đang đợi bà. Khi họ hỏi tại sao bà không chạy đi tìm chỗ trú để giữ cho quần áo không bị ướt, bà trả lời rằng bà có rất nhiều quần áo ở nhà, nhưng nếu bà chạy, bà có thể làm tổn thương một bộ phận cơ thể và đó sẽ là một tổn thất lớn. "Những cô gái chưa chồng," bà nói, "giống như hàng hóa đang chờ bán, họ không được phép bị biến dạng." Các sứ giả đã tặng bà một bó hoa (mālāgulaṁ), mà bà đã nhận như một lời cầu hôn, và sau đó đi tiếp đến nhà cha bà. Các sứ giả đã đi theo và đệ trình lời cầu hôn của Puṇṇavaddhana trước Dhanañjaya. Lời cầu hôn đã được chấp nhận và được xác nhận bằng việc trao đổi thư từ.

Khi Pasenadi nghe về điều đó, ngài đã đề nghị tháp tùng Puṇṇavaḍḍhana đến Sāketa, như một dấu hiệu của đặc ân đặc biệt. Dhanañjaya đã chào đón nhà vua và đoàn tùy tùng của ngài, Migāra, Puṇṇavaḍḍhana và những người hầu cận của họ, với tất cả sự tôn kính, đích thân lo liệu tất cả các chi tiết của việc tiếp đón. Ông đã thuyết phục nhà vua ở lại với mình trong suốt mùa mưa, cung cấp tất cả những gì cần thiết. Theo ghi chép của Dhammapada Commentary (loc.cit.), Visākhā đã giám sát tất cả các sự chuẩn bị.

Năm trăm thợ kim hoàn đã được thuê để làm Mahā Latāpasādhana (đồ trang sức), q.v., cho cô dâu; ba tháng trôi qua, nhưng nó vẫn chưa hoàn thành. Nguồn củi đã cạn kiệt, và các mệnh lệnh được đưa ra rằng gỗ của những ngôi nhà đổ nát nên được sử dụng. Số gỗ này kéo dài được nửa tháng, và sau đó các nhà kho chứa vải được mở ra, các tấm vải được ngâm trong dầu và dùng để nấu thức ăn. Đồ trang sức đã được hoàn thành trong bốn tháng. Vào thời của Kassapa Buddha, bà đã cúng dường y bát cho hai mươi nghìn nhà sư, cùng với chỉ, kim và vật liệu may vá; như một kết quả của việc này, bà đã nhận được đồ trang sức của mình trong kiếp sống này (Dhp­a.i.395).

Dhanañjaya đã tặng cho con gái mình, làm của hồi môn, năm trăm chiếc xe chở đầy tiền, năm trăm chiếc chở những đồ chứa bằng vàng, năm trăm chiếc mỗi loại chở bạc, đồng, các loại lụa khác nhau, bơ loãng, gạo đã xát vỏ và giần sàng; cũng có cày, lưỡi cày, và các nông cụ khác, năm trăm chiếc xe với ba nữ tỳ trong mỗi xe, mọi thứ đều được cung cấp cho họ. Số gia súc mà ông trao tặng đã lấp đầy một khu chuồng dài ba phần tư do-tuần và rộng tám trượng, đứng chen chúc nhau, và ngoài số này, sáu mươi nghìn con bò đực và sáu mươi nghìn con bò sữa đã thoát khỏi chuồng của chúng và gia nhập vào đàn gia súc đã được tặng cho bà. Trong kiếp sống làm Saṅghadāsī, bà đã cúng dường năm sản phẩm của bò cho hai mươi nghìn nhà sư, khẩn khoản xin họ ăn; do đó có sự việc gia súc trốn thoát vì lợi ích của bà (Dhp­a.i.397). Những người thân của Visākhā tiếp tục gửi cho bà những món quà đắt tiền ngay cả sau khi bà kết hôn. Udāna (ii.9) chứa một câu chuyện về một cuộc tranh chấp của bà với các nhân viên hải quan liên quan đến khoản thuế mà họ đánh vào một trong những món quà của bà. Bà đã đến thăm Pasenadi vài lần, cố gắng để giải quyết vấn đề; nhưng ngài không có thời gian dành cho việc này, và cuối cùng, bà đã tìm kiếm sự an ủi từ Đức Phật.

Khi đến lúc Visākhā phải rời đi, Dhanañjaya đã cho bà mười lời khuyên, mà Migāra đã tình cờ nghe được từ phòng bên cạnh. Những lời khuyên này là:

  • Không cho lửa từ trong nhà ra ngoài;
  • không mang lửa từ bên ngoài vào trong nhà;
  • chỉ cho những người có trả lại;
  • không cho những người không trả lại;
  • cho người có trả lại và cho người không trả lại;
  • ngồi, ăn và ngủ một cách vui vẻ;
  • chăm sóc ngọn lửa và tôn kính các vị thần trong nhà.

Những câu đố này sau đó đã được Visākhā giải thích cho cha chồng của bà (Dhp­a.i.403f.). Ngày hôm sau, Dhanañjaya đã chỉ định tám gia chủ làm người bảo lãnh cho con gái mình và điều tra bất kỳ cáo buộc nào có thể được đưa ra chống lại bà. Khi bà rời đi, Dhanañjaya cho phép bất kỳ cư dân nào trong mười bốn ngôi làng phụ thuộc của ông đi theo bà nếu họ muốn. Kết quả là các ngôi làng đã bị bỏ trống; nhưng Migāra, sợ rằng ông sẽ phải nuôi họ, đã đuổi hầu hết họ về. Visākhā tiến vào Sāvatthī khi đang đứng trên cỗ xe của mình, để tất cả mọi người có thể nhìn thấy sự vinh quang của bà. Các công dân đã trút vô số món quà tặng bà, nhưng bà đã phân phát chúng cho mọi người.

Migāra là một người theo các Nigaṇṭha, và ngay sau khi Visākhā đến nhà ông, ông đã cho gọi họ đến và bảo bà phục vụ họ. Nhưng Visākhā, thấy ghê tởm trước sự khỏa thân của họ, đã từ chối đảnh lễ họ. Các Nigaṇṭha đã thúc giục rằng bà nên bị đuổi đi, nhưng Migāra đã chờ đợi thời cơ của mình.

Một ngày nọ, khi Migāra đang ăn, trong khi Visākhā đứng quạt cho ông, một vị sư được nhìn thấy đang đứng bên ngoài nhà ông. Visākhā đứng sang một bên, để Migāra có thể nhìn thấy vị sư, nhưng khi Migāra tiếp tục ăn mà không chú ý đến vị sư, bà đã nói với vị sư đó, "Xin ngài hãy đi tiếp, thưa ngài, cha chồng tôi đang ăn thức ăn ôi thiu." Migāra đã tức giận và đe dọa sẽ đuổi bà đi, nhưng, theo yêu cầu của bà, vấn đề đã được chuyển đến những người bảo lãnh của bà. Họ đã điều tra một số cáo buộc được đưa ra chống lại bà và phán quyết bà vô tội. Sau đó Visākhā đã ra lệnh chuẩn bị cho việc bà trở về với cha mẹ. Nhưng Migāra đã cầu xin bà tha thứ và bà đã chấp nhận, với điều kiện là ông sẽ mời Đức Phật và các nhà sư của ngài đến nhà. Ông đã làm điều này, nhưng, do ảnh hưởng của các Nigaṇṭha, ông đã để Visākhā tiếp đãi họ, và chỉ đồng ý nghe bài thuyết pháp của Đức Phật vào cuối bữa ăn từ phía sau một bức màn. Tuy nhiên, khi kết thúc bài thuyết pháp này, ông đã trở thành một bậc Sotāpanna. Lòng biết ơn của ông đối với Visākhā là vô bờ bến; từ nay trở đi bà sẽ được coi là mẹ của ông và nhận được tất cả sự tôn kính dành cho một người mẹ; kể từ thời điểm này trở đi bà được gọi là Migāramātā. Trong Dhp­a.i.406 chúng ta được biết rằng để xác nhận lời tuyên bố này, Migāra đã bú bầu ngực của Visākhā. Ghi chép này nói thêm rằng bà cũng có một người con trai tên là Migāra; như vậy đã có một lý do kép cho cái tên này. AN­a.i.313 nói rằng Migāra là con trai cả của bà.

Migāra đã đặt làm cho bà để sử dụng hàng ngày một món đồ trang sức được gọi là ghanamaṭṭhaka, với chi phí một trăm ngàn (một thời gian sau, Visākhā đã bán Mahālatāpasādhana và xây dựng Migāramātupāsada). Vào ngày trao tặng món đồ trang sức này, Migāra đã tổ chức cho bà một lễ hội đặc biệt để tôn vinh bà, và bà đã được cho tắm trong mười sáu hũ nước thơm. Ghi chép này về Visākhā được tóm tắt từ Dhp­a.i.384ff.; AN­a.i.219ff. chứa một ghi chép tương tự nhưng ít chi tiết hơn nhiều. Ghi chép của Dhammapada Commentary chứa nhiều chi tiết cụ thể khác, một số trong đó được đưa ra dưới đây.

Visākhā có mười con trai và mười con gái, mỗi người trong số họ có số lượng con cái tương tự, và tiếp tục như vậy cho đến thế hệ thứ tư. Trước khi qua đời, ở độ tuổi một trăm hai mươi, bà có tám mươi tư ngàn không trăm hai mươi hậu duệ trực hệ, tất cả đều đang sống (nhưng xem Ud.viii.8, ở đó nói về cái chết của một người cháu gái và sự đau buồn vô hạn của Visākhā; điều này rõ ràng đề cập đến Dattā). Bản thân bà, trong suốt cuộc đời, giữ được vẻ ngoài của một cô gái mười sáu tuổi. Bà có sức mạnh của năm con voi, và người ta nói rằng có lần bà đã dùng hai ngón tay nắm lấy vòi của một con voi, vốn được gửi đến để thử nghiệm bà, và buộc nó lùi lại bằng hai chân sau (Dhp­a.i.409). Visākhā có danh tiếng lớn về việc mang lại may mắn đến nỗi người dân Sāvatthī luôn mời bà đến nhà của họ vào các dịp lễ hội và ngày nghỉ (Dhp­a.i.409).

Visākhā đã thiết đãi năm trăm nhà sư mỗi ngày tại nhà của mình (vì vậy, ví dụ, Ja.iv.144; hai nghìn, theo Dhp­a.i.128; sau đó bà chỉ định cháu gái của mình, có lẽ là Dattā, thực hiện nhiệm vụ thay bà.) Vào buổi chiều, bà đến thăm Đức Phật, và sau khi lắng nghe bài thuyết pháp của ngài, bà sẽ đi vòng quanh tu viện để hỏi thăm về các nhu cầu của các nhà sư và các tỳ-kheo-ni. Vì bà mong muốn những điều tốt đẹp cho Tăng đoàn nên bà đã được chỉ định vào ủy ban được thành lập để điều tra cáo buộc về hành vi sai trái chống lại mẹ của Kumāra Kassapa (q.v.); kinh nghiệm của Visākhā với tư cách là mẹ của nhiều đứa trẻ đã giúp ích rất nhiều cho bà. Trong những vòng đi thăm này, thỉnh thoảng bà được Suppiyā đi cùng. Đối với một sự kiện liên quan đến một trong những chuyến thăm này, hãy xem Suppiyā. Dhammapada Commentary (Dhp-a.i.100f.) nói rằng có lần năm trăm thanh niên xuất thân từ các gia đình gia giáo đã giao phó việc chăm sóc vợ của họ cho Visākhā. Vào một dịp nọ, khi đi cùng bà đến tu viện, họ đã say xỉn và có những hành động khiếm nhã trước mặt Đức Phật. Đức Phật đã làm họ sợ hãi bằng cách phát ra một tia sáng màu xanh đậm, qua đó giúp họ tỉnh táo trở lại. Đây là dịp để thuyết Kumbhajātaka (Ja 512); xem thêm Ja.v.11f. Visākhā đã cầu xin, và được Đức Phật ban cho, tám đặc ân:

  • cho đến chừng nào bà còn sống, bà được phép cúng dường y cho các thành viên của Tăng đoàn trong mùa an cư;
  • thực phẩm cho các nhà sư đến Sāvatthī;
  • thực phẩm cho những người đi xa;
  • thực phẩm cho người bệnh;
  • thực phẩm cho những người chăm sóc người bệnh;
  • thuốc men cho người bệnh;
  • nguồn cung cấp cháo gạo thường xuyên cho bất kỳ ai cần đến nó;
  • và y tắm cho các tỳ-kheo-ni.

Có lẽ vì đặc ân này mà các nhà sư, những người đã đến thăm Khadiravaniya Revata (q.v.), đã đến thăm Visākhā ngay sau khi họ trở về Sāvatthī; nhưng xem Pīṭhajātaka (Ja 337). Danh sách các đặc ân này và lý do Visākhā cầu xin chúng được đưa ra tại Vin.i.290ff. Theo Surucijātaka (Ja 489, q.v.), bà đã có được các đặc ân này cũng nhờ đức hạnh của bà trong quá khứ, ví dụ, trong kiếp sống của bà làm Sumedhā (Ja.iv.315ff.); xem thêm Vin.i.296, nơi Đức Phật chấp nhận một chiếc khăn lau mặt như một món quà đặc biệt từ Visākhā nhưng sẽ không chấp nhận một vật dụng chà chân bằng đất nung (Vin.ii.129f.).

Với việc xây dựng Migāramātupāsāda (q.v.) trong Pubbārāma những tham vọng của Visākhā đã được viên mãn, và người ta nói (Dhp­a.i.416f) rằng khi tu viện được hoàn thành và lễ khai mạc đang diễn ra, khi chiều buông xuống, bà đã đi vòng quanh tu viện cùng với các con, các cháu và các chắt của mình, và trong năm bài kệ đã cất tiếng hát thể hiện niềm vui của mình, nói rằng, "Bây giờ lời cầu nguyện mà tôi đã cầu nguyện trong thời xa xưa đã hoàn toàn được viên mãn." (Những mong muốn được đề cập trong các bài kệ này như đã được viên mãn khác với tám đặc ân đã đề cập ở trên). Các nhà sư đã nghe bà hát và nói với Đức Phật; ngài đã kể cho họ nghe làm thế nào, trong thời của Padumuttara Buddha, Visākhā đã từng là bạn của những nữ ân nhân chính yếu của vị Phật đó. Trong thời của Kassapa Buddha, bà là Saṅghadāsī, con gái út trong số bảy người con gái của Kikī, và trong một thời gian dài sau khi kết hôn, bà đã cúng dường và thực hiện các công việc thiện nguyện khác cùng với các chị em của mình (AN­a.i.219).

Theo Vihāravimānavatthu (Vv.iv.6; Vv-a.189,191), Visākhā đã tái sinh, sau khi qua đời, giữa chư thiên Nimmānaratī với tư cách là bạn đời của vị vua thiên nhân Sunimmita.

Buddhaghosa nói (DN­a.iii.740) rằng Visākhā, giống như SakkaAnāthapiṇḍika, sẽ tận hưởng một trăm ba mươi mốt kappa hạnh phúc ở các cõi Brahma trước khi bà cuối cùng viên tịch vào Nibbāna.

Trong số các người thân của Visākhā cũng được nhắc đến, ngoài hai con trai của bà là Migajāla và Migāra, còn có một người chị em là Sujātā, người đã trở thành con dâu của Anāthapiṇḍika (AN.iv.91; AN­a.ii.724; Ja.ii.347); một người cháu trai, Saḷha (q.v.); một cháu gái, Dattā, người đã qua đời (Dhp­a.iii.278): và Uggaha (q.v.), được gọi là Meṇḍakanattā. Sự đề cập cũng được đưa ra về một người cháu trai của bà, người mà bà đã nói giúp với Đức Phật khi các nhà sư từ chối cho cậu xuất gia trong mùa an cư (Vin.i.153).

Các sách chứa nhiều Sutta do Đức Phật thuyết cho Visākhā trong những chuyến viếng thăm thường xuyên của bà đến ngài, nổi bật trong số các Sutta như vậy là bài thuyết pháp nổi tiếng về việc thọ trì ngày uposatha (AN.i.205ff.; xem thêm iv.255; Dhp­a.iii.58f), bài thuyết pháp về tám phẩm chất mang lại cho người phụ nữ quyền lực trong thế giới này và quyền lực cũng như hạnh phúc ở thế giới tiếp theo (AN.iv.269), và tám phẩm chất mang lại cho một người phụ nữ sự tái sinh vào chư thiên Manāpakāyikā (AN.iv.267).

06. Visākhā 06 draft

Visākhā 06. One of the women who will renounce the world at the same time as the future Metteyya Buddha. She will be accompanied by eighty-four thousand other women. Anāg. vs. 63.

Visākhā 06. Một trong những người phụ nữ sẽ xuất gia cùng lúc với vị Metteyya Buddha tương lai. Bà sẽ được tháp tùng bởi tám mươi tư ngàn phụ nữ khác. Anāg. vs. 63.