Sāḷha draft

01. Sāḷha 01 draft

Sāḷha 01. called Sāḷha Migāranattā. He once visited Nandaka Thera with Pekkhuṇiya’s grandson, Rohaṇa. See the Sāḷhasutta (AN.i.193 f). He built a vihāra for the nuns and Sundarīnandā was appointed to supervise the work. As a result, Sāḷha and Sundarīnandā saw each other frequently and fell in love. Wishing to seduce her, Sāḷha invited a party of nuns to his house and set apart seats for those nuns who were older than Nandā in one part, and for those younger in another, so that Nandā would be alone. But she, guessing the reason for the invitation, did not go, and, instead, sent an attendant nun to Sāḷha’s house for her alms, excusing herself on the plea that she was taken ill. Saḷha, hearing of this, set a servant to look after the other nuns and ran off to the monastery. Nandā, on her bed, was waiting for him, and he seduced her (Vin.iv.211f). Buddhaghosa explains (Vin-a.iv.900) that Sāḷha was called Migāranattā because he was the grandson of Migaramātā (Visākhā).

Được gọi là Sāḷha Migāranattā. Ông từng đến thăm Nandaka Thera cùng với cháu trai của Pekkhuṇiya, Rohaṇa. Xem Sāḷhasutta (AN.i.193 f). Ông đã xây dựng một vihāra cho các ni cô và Sundarīnandā được bổ nhiệm để giám sát công việc. Kết quả là, Sāḷha và Sundarīnandā thường xuyên gặp nhau và yêu nhau. Muốn quyến rũ bà, Sāḷha đã mời một nhóm ni cô đến nhà mình và sắp xếp chỗ ngồi riêng cho những ni cô lớn tuổi hơn Nandā ở một bên, và cho những người trẻ tuổi hơn ở một bên khác, sao cho Nandā sẽ phải ở một mình. Nhưng bà, đoán được lý do của lời mời, đã không đi, mà thay vào đó, cử một nữ tỳ-kheo hầu cận đến nhà của Sāḷha để nhận phần khất thực của bà, và cáo lỗi với lý do là bà bị bệnh. Sāḷha, nghe được điều này, đã sai một người hầu chăm sóc cho các ni cô khác và chạy đến tu viện. Nandā, đang ở trên giường của mình, đang đợi ông, và ông đã quyến rũ bà (Vin.iv.211f). Buddhaghosa giải thích (Vin-a.iv.900) rằng Sāḷha được gọi là Migāranattā vì ông là cháu trai của Migaramātā (Visākhā).

02. Sāḷha 02 draft

Sāḷha 02. A Licchavī, who once visited the Buddha at the Kūṭāgārasālā (AN.ii.200). See Saḷhasutta 2.

Một người Licchavī, đã từng đến thăm Đức Phật tại Kūṭāgārasālā (AN.ii.200). Xem Saḷhasutta 2.

03. Sāḷha 03 draft

Sāḷha 03. A monk of Ñātikā. The Buddha declared that he died an Arahant. DN.ii.191; SN.v.356.

Một tỳ-kheo của Ñātikā. Đức Phật đã tuyên bố rằng ngài viên tịch như một vị Arahant. DN.ii.191; SN.v.356.

04. Sāḷha 04 draft

Sāḷha 04. An eminent monk who took a prominent part in the Second Council. He lived in Sahajāti, and, on hearing of the heresy of the Vajjiputtakas, retired into solitude in order to decide whether he thought their contentions right. There an inhabitant of the Suddhāvāsā informed him that the Vajjiputtakas were wrong. He was one of the four appointed on behalf of the Pācīnakas (Vajjiputtakas) on the committee which discussed the dispute. He was a pupil of Ānanda. Vin.ii.302ff.; Mhv.iv.4f, 48, 57; Dpv.iv.49; v.22; Vin-a.i.34.

Một vị tỳ-kheo lỗi lạc, người đã đóng một vai trò nổi bật trong Đại Kết Tập thứ hai. Ngài sống ở Sahajāti, và, khi nghe về tà kiến của những người Vajjiputtaka, ngài đã rút lui vào nơi thanh vắng để tự quyết định xem ngài nghĩ những lập luận của họ là đúng hay không. Tại đó một cư dân của Suddhāvāsā đã thông báo cho ngài rằng những người Vajjiputtaka đã sai. Ngài là một trong bốn người được chỉ định thay mặt cho những người Pācīnaka (những người Vajjiputtaka) trong ủy ban thảo luận về cuộc tranh chấp. Ngài là một học trò của Ānanda. Vin.ii.302ff.; Mhv.iv.4f, 48, 57; Dpv.iv.49; v.22; Vin-a.i.34.