Sundarīnandā draft

01. Sundarīnandā 01 draft

Sundarīnandā 01. Younger sister of Thullanandā; she had two other sisters, Nandā and Nandavatī. Sāḷha Migāranattā (q.v.) seduced her, and she was proclaimed guilty of a Parājikā offence (Vin.iv.211f). She was also blamed for her greediness as regards food. Vin.iv.232f., 234.

Sundarīnandā 01. Em gái của Thullanandā; cô có hai người chị em khác, NandāNandavatī. Sāḷha Migāranattā (q.v.) đã quyến rũ cô, và cô bị tuyên bố phạm phải một tội Parājikā (Vin.iv.211f). Cô cũng bị chê trách vì tính tham ăn của mình. Vin.iv.232f., 234.

02. Sundarīnandā 02 draft

Sundarīnandā 02. A Therī. She was the daughter of Suddhodana and Mahā Pajāpatī and sister of Nanda Thera. Seeing that most of her kinsmen had joined the Saṅgha, she too became a nun, not from faith, but from love of her kin. Being intoxicated with her own beauty, she did not go to see the Buddha lest he should rebuke her. The rest of her story is very similar to that of Abhirūpanandā. The Buddha preached to her and she became a Sotāpanna. He then gave her a topic of meditation, and she, developing insight, became an Arahant. Later she was declared foremost among nuns in power of meditation, an eminence which she had resolved to obtain in the time of Padumuttara Buddha. Thag.vs.82-6; Thīg­a.80f.; Ap.ii.572f; AN.i.25; AN­a.i.198f.

She seems to have been called Rūpanandā (AN­a.i.198) too; there seems to have been some confusion in the legends of the different Therīs named Nandā.

Sundarīnandā 02. Một vị Therī. Bà là con gái của Suddhodana và Mahā Pajāpatī và là em gái của Nanda Thera. Thấy phần lớn những người thân của mình đã gia nhập Tăng đoàn, bà cũng trở thành tỳ-kheo-ni, không phải vì đức tin, mà vì tình yêu đối với người thân của mình. Bị say sưa với vẻ đẹp của chính mình, bà đã không đến gặp Đức Phật e rằng Ngài sẽ khiển trách bà. Phần còn lại của câu chuyện của bà rất giống với câu chuyện của Abhirūpanandā. Đức Phật thuyết pháp cho bà và bà đã trở thành một Sotāpanna. Sau đó Ngài cho bà một đề mục thiền, và bà, nhờ phát triển thiền quán, đã trở thành một Arahant. Về sau bà được tuyên bố là vị tỳ-kheo-ni tối thắng về năng lực thiền định, một vị trí ưu việt mà bà đã quyết tâm đạt được vào thời kỳ của Padumuttara Buddha. Thag.vs.82-6; Thīg­a.80f.; Ap.ii.572f; AN.i.25; AN­a.i.198f.

Bà dường như cũng được gọi là Rūpanandā (AN­a.i.198); dường như đã có một sự nhầm lẫn nào đó trong những truyền thuyết về các Therī khác nhau tên là Nandā.