Cittalapabbata draft
Cittalapabbata, Cittalakūṭa. A mountain in Rohaṇa on which Kākavaṇṇatissa built a vihāra (Mhv.xxii.23) and Vasabha ten Thūpas (Mhv.xxxv.81). Dāṭhopatissa gave to the vihāra the village of Gonnaviṭṭhi (Cv.xlv.59). The mountain is described as being healthy (utusappāya) (Mhvṭ.552), and sometimes there lived on it as many as twelve thousand monks (Vibha.445; Mhv.xxiv.9). Attached to the vihāra was the Niṅkaponnapadhānaghara (Vibha.489) and the Koṭagerukapāsāda – the residence of Bhāgineyya Saṅgharakkhita (Mhvṭ.552) – and also, probably, a nunnery (see Vibha.498). The Elders Mahā Nāga and Cūḷa Nāga lived at Cittalapabbata for three years (SNa.ii.125). The Commentaries contain several stories connected with the mountain (e.g., Vibha.264, 498; Dhsa.351, 399; ANa.i.386; MNa.i.18, 66, 150, 223, 351, 399). Near by (ANa.i.386) was the village of Kālumbara and the bathing place of Kuruvakatittha (MNa.ii.1024). It was evidently a very important monastic centre in Ceylon, and is mentioned on a par with Abhayagiri and Cetiyapabbata (DNa.ii.478). Cittalapabbata is sometimes called Cittalakūṭa, e.g., Mhv.xxxv.81.
Cittalapabbata, Cittalakūṭa. Một ngọn núi ở Rohaṇa nơi Kākavaṇṇatissa đã xây dựng một vihāra (Mhv.xxii.23) và Vasabha xây dựng mười Thūpa (Mhv.xxxv.81). Dāṭhopatissa đã ban cho vihāra ngôi làng Gonnaviṭṭhi (Cv.xlv.59). Ngọn núi được miêu tả là có khí hậu lành mạnh (utusappāya) (Mhvṭ.552), và đôi khi có tới mười hai nghìn vị tỳ-kheo sống ở đó (Vibha.445; Mhv.xxiv.9). Trực thuộc vihāra là Niṅkaponnapadhānaghara (Vibha.489) và Koṭagerukapāsāda – nơi ở của Bhāgineyya Saṅgharakkhita (Mhvṭ.552) – và có lẽ cũng có một tu viện nữ (xem Vibha.498). Các Trưởng lão Mahā Nāga và Cūḷa Nāga đã sống ở Cittalapabbata trong ba năm (SNa.ii.125). Các Bản chú giải chứa đựng một số câu chuyện liên quan đến ngọn núi (e.g., Vibha.264, 498; Dhsa.351, 399; ANa.i.386; MNa.i.18, 66, 150, 223, 351, 399). Gần đó (ANa.i.386) là ngôi làng Kālumbara và bến tắm Kuruvakatittha (MNa.ii.1024). Rõ ràng nó là một trung tâm tu viện rất quan trọng ở Ceylon, và được nhắc đến ngang hàng với Abhayagiri và Cetiyapabbata (DNa.ii.478). Cittalapabbata đôi khi được gọi là Cittalakūṭa, e.g., Mhv.xxxv.81.