Cūḷa Nāga draft
01. Cūḷa Nāga 01 draft
Cūḷa Nāga 01. Cūḷa Nāga Thera, Cūla Nāga Thera. Generally referred to as Tipiṭaka Cūḷa Nāga He was evidently a very famous commentator, and his opinions are quoted in the commentaries of Buddhaghosa (e.g., MNa.i.126; SNa.iii.206; Dhsa.229, 267, 284; Vm.389; also FsA.405). Cūḷa Nāga was the pupil of Summa Thera of Dīpavihāra (ANa.ii.845) and a contemporary of Tipiṭaka Cūḷābhaya Thera, who seems to have differed from him most violently on certain points (See VihhA.16; also Dhsa.230). Cūḷa Nāga lived in the reign of Kuṭakaṇṇatissa (16-38 CE.), and we are told (Vibha.452) that the king held him in great respect. Once the Elder had a boil on his finger, and the king, visiting him, put the finger in his mouth to alleviate the pain. The boil burst and the king swallowed the pus therefrom. When the Elder lay dying the king carried on his head the pot containing his stools, lamenting, “The mainstay of the Dhamma is lost.” The Saṁyutta Commentary (SNa.ii.201) tells of an incident which occurred when Cūḷa Nāga was preaching in the Lohapāsāda. A Brahmin, listening to him, was so convinced by the sermon of the impermanence of all things, that he ran home and clasped his son to his heart, saying that he was undone. The Elder once received a bowl which it was not right for him to keep and he gave it to the Saṅgha (Vin-a.iii.699). Cūḷa Nāga does not always seem to have agreed with his teacher in his interpretations of various matters (Vibha.342). Once when it was announced to Summa that Cūḷa Nāga had explained the word thūpīkata in a certain way, he expressed great sorrow and resentment and declared that though he had seven times read the Vinaya with Cūḷa Nāga, he had never taught him such an explanation; but Cūḷa Nāga was able to uphold his contention (Vin-a.iv.892; for another incident see Cūḷa Summa). Cūḷa Nāga once preached the Chachakkasutta in Ambilahālavihāra, and on that occasion the audience of men extended to a distance of one gāvuta and that of Devas to a distance of a league. At the end of the discourse, one thousand monks became Arahants (MNa.ii.1025).
Cūḷa Nāga 01. Trưởng lão Cūḷa Nāga, Trưởng lão Cūla Nāga. Thường được gọi là Tipiṭaka Cūḷa Nāga. Ngài rõ ràng là một nhà chú giải rất nổi tiếng, và các quan điểm của ngài được trích dẫn trong các bản chú giải của Buddhaghosa (e.g., MNa.i.126; SNa.iii.206; Dhsa.229, 267, 284; Vm.389; also FsA.405). Cūḷa Nāga là học trò của Trưởng lão Summa ở Dīpavihāra (ANa.ii.845) và là người cùng thời với Trưởng lão Tipiṭaka Cūḷābhaya, người dường như đã có sự bất đồng quan điểm rất gay gắt với ngài về một số điểm (Xem VihhA.16; cũng xem Dhsa.230). Cūḷa Nāga sống vào triều đại của Kuṭakaṇṇatissa (16-38 CN), và chúng ta được biết (Vibha.452) rằng nhà vua vô cùng kính trọng ngài. Một lần vị Trưởng lão bị nhọt ở ngón tay, và nhà vua, khi đến thăm ngài, đã ngậm ngón tay đó vào miệng để giảm đau. Nhọt vỡ ra và nhà vua đã nuốt luôn mủ từ đó. Khi vị Trưởng lão hấp hối, nhà vua đã đội trên đầu mình cái bô chứa phân của ngài, than khóc rằng, "Trụ cột của Pháp (Dhamma) đã mất." Saṁyutta Commentary (SNa.ii.201) kể về một sự việc xảy ra khi Cūḷa Nāga đang thuyết pháp tại Lohapāsāda. Một vị Bà-la-môn, khi nghe ngài giảng, đã bị thuyết phục bởi bài pháp về sự vô thường của vạn vật đến nỗi ông ta chạy về nhà và ôm chặt đứa con trai vào lòng, nói rằng ông đã mất tất cả. Vị Trưởng lão từng nhận được một cái bát mà ngài không được phép giữ và ngài đã cúng dường nó cho Tăng đoàn (Vin-a.iii.699). Cūḷa Nāga dường như không phải lúc nào cũng đồng ý với thầy của mình trong việc giải thích nhiều vấn đề khác nhau (Vibha.342). Một lần khi có người thông báo cho Summa rằng Cūḷa Nāga đã giải thích từ thūpīkata theo một cách nhất định, ông đã bày tỏ sự vô cùng đau buồn và phẫn nộ và tuyên bố rằng mặc dù ông đã bảy lần đọc Vinaya cùng với Cūḷa Nāga, ông chưa bao giờ dạy ngài một lời giải thích như vậy; nhưng Cūḷa Nāga đã có thể bảo vệ được lập luận của mình (Vin-a.iv.892; về một sự việc khác, xem Cūḷa Summa). Cūḷa Nāga từng thuyết giảng Chachakkasutta tại Ambilahālavihāra, và vào dịp đó thính chúng là loài người trải dài đến một khoảng cách là một gāvuta và thính chúng là chư thiên đến khoảng cách là một dặm. Vào cuối bài pháp, một nghìn vị tỳ-kheo đã trở thành các Arahant (MNa.ii.1025).
02. Cūḷa Nāga 02 draft
Cūḷa Nāga 02. Cūla Nāga. A Thera of Vasālanagara. With his brother Mahā Nāga, he entered the Saṅgha and, for thirty years, lived in Cittalapabbata, where he attained Arahant-ship. He refused to reveal his identity to his mother when visiting her because he did not wish to have any attachments. SNa.ii.125.
Cūḷa Nāga 02. Cūla Nāga. Một Trưởng lão ở Vasālanagara. Cùng với anh trai của mình là Mahā Nāga, ngài đã gia nhập Tăng đoàn và, trong ba mươi năm, đã sống tại Cittalapabbata, nơi ngài đã chứng đắc quả vị Arahant. Ngài từ chối tiết lộ danh tính của mình cho mẹ khi đến thăm bà bởi vì ngài không muốn có bất kỳ sự luyến ái nào. SNa.ii.125.
03. Cūḷa Nāga 03 draft
Cūḷa Nāga 03. Cūla Nāga. A Thera of Ceylon. An eminent teacher of the Vinaya. Vin.v.3; Vin-a.i.62.
Cūḷa Nāga 03. Cūla Nāga. Một Trưởng lão ở Ceylon. Một bậc thầy xuất chúng về Vinaya. Vin.v.3; Vin-a.i.62.
04. Cūḷa Nāga 04 draft
Cūḷa Nāga 04. A monk of Pidhānagalla in the time of Duṭṭhagāmaṇī. Saṅghadattā (q.v.) gave him a robe.
Cūḷa Nāga 04. Một vị tỳ-kheo ở Pidhānagalla vào thời của Duṭṭhagāmaṇī. Saṅghadattā (xem mục từ này) đã cúng dường cho ngài một chiếc y.
05. Cūḷa Nāga 05 draft
Cūḷa Nāga 05. A monk of Asiggāhakapariveṇa. One day, after having obtained alms in Candavaṅkavīthi, he fed a starving bitch. That same evening he got large quantities of ghee and molasses which he gave to his colleagues. For thirty-two years he gave alms to thousands of monks from food given to him by the people of Candavaṅkavīthi. Later, he became an Arahant. Once, 500 monks on pilgrimage to the Bodhi-tree, took him with them to avert danger. In four months they reached Koṭṭapaṭṭana and in seven months the Bodhi-tree, being well entertained everywhere. On the way back Cūḷa Nāga was seized with a colic and died; but before death he advised his colleagues to cremate his body and take his ashes that they might be provided with their wants. Ras.ii.122f.
Cūḷa Nāga 05. Một vị tỳ-kheo của Asiggāhakapariveṇa. Một ngày nọ, sau khi khất thực ở Candavaṅkavīthi, ngài đã cho một con chó cái đang chết đói ăn. Cùng buổi tối hôm đó, ngài nhận được một lượng lớn bơ lỏng và mật mía mà ngài đã chia cho các đồng đạo của mình. Trong ba mươi hai năm, ngài đã bố thí thức ăn cho hàng nghìn vị tỳ-kheo từ thức ăn mà người dân ở Candavaṅkavīthi cúng dường cho ngài. Về sau, ngài đã trở thành một Arahant. Một lần, 500 vị tỳ-kheo trong chuyến hành hương đến cây Bodhi, đã đưa ngài đi cùng với họ để tránh được hiểm nguy. Trong bốn tháng, họ đã đến được Koṭṭapaṭṭana và trong bảy tháng thì đến cây Bodhi, được tiếp đãi chu đáo ở mọi nơi. Trên đường trở về, Cūḷa Nāga bị mắc một cơn đau bụng dữ dội và qua đời; nhưng trước khi chết ngài đã khuyên các đồng đạo hỏa táng cơ thể ngài và mang theo tro cốt của ngài để họ có thể được cung cấp những gì họ cần. Ras.ii.122f.
06. Cūḷa Nāga 06 draft
Cūḷa Nāga 06. A fortress in Rājaraṭṭha (in Ceylon). Ras.ii.145.
Cūḷa Nāga 06. Một pháo đài ở Rājaraṭṭha (thuộc Ceylon). Ras.ii.145.
7. Cūḷa Nāgā draft
Cūḷa Nāgā. An Arahant Therī, mentioned as an eminent teacher of the Vinaya in Ceylon. Dpv.xviii.38.
Cūḷa Nāgā. Một nữ Arahant (Therī), được nhắc đến như một bậc thầy xuất chúng về Vinaya ở Ceylon. Dpv.xviii.38.