Dhammadinna draft
01. Dhammadinna 01 draft
Dhammadinna 01. Dhammadinna Thera also called Mahā Dhammadinna. An Arahant. He resided at Talaṅgapabbata (Talaṅgatissapabbata) (q.v.). He was one of the monks who partook of the meal of sour gruel given by Duṭṭhagāmaṇī when in dire distress for want of food. Dhammadinna distributed his share among ten thousand monks in Piyaṅgudīpa (Mhv.xxxii.52). He is also mentioned as having accepted a meal given by Sāliya and his wife when they were blacksmiths in a previous birth (Mhvṭ.606). Dhammadinna had a nephew who became an Arahant in the tonsure-hall. Dhammadinna read to him the three Piṭakas, and he learnt them all on that occasion (Vibha.389). Dhammadinna’s teacher was Mahā Nāga of Uccatalaṅka (v.l. Uccavālika). Dhammadinna visited him in his old age, knowing that, though he himself thought he had attained Arahant-ship, this was not the case. By a display of iddhi-power, Dhammadinna convinced Mahā Nāga of his error and gave him a subject of meditation. Almost immediately after, the Elder became an Arahant (Vibha.489; Vsm.634f). Once, while preaching the Apaṇṇakasutta, at Tissamahārāma, Dhammadinna pointed his fan downwards, whereupon the earth opened to the depth of Avīci, revealing all that was there. Similarly, he showed all things to the height of the Brahma-world. During his sermon he frightened the audience with the fear of hell and lured them with the bliss of heaven (Vsm.392).
The Majjhima Commentary records that soon after the ordination of Dhammadinna many monks, on his advice, became Arahants (MNa.i.149ff. A variation of what is evidently the same story is found in ANa.i.25). Hearing of this, the monks of Tissamahārāma sent a number of their colleagues to fetch him. He preached to them, and they attained Arahant-ship and remained with him. Three times this happened. On the fourth occasion an aged monk was sent. He gave the message of the monks and Dhammadinna started at once to go to them. On the way, at Haṅkana (v.l. Taṅgana) and at Cittalapabbata, he persuaded two monks, who thought they were Arahants, to display their iddhi-power, and, thereby convinced them of their error; thereupon he gave them topics of meditation. On his arrival at Tissamahārāma, the monks failed to pay him their respects. He thereupon made the earth tremble and returned to his own vihāra. The Saddhammasaṅgaha (p.88f) relates the story of a blind rat-snake who heard Dhammadinna recite the satipaṭṭhānas and was later born as Tissāmacca, minister of Duṭṭhagāmaṇī.
Dhammadinna 01. Dhammadinna Thera cũng được gọi là Mahā Dhammadinna. Một vị Arahant. Ngài cư trú tại Talaṅgapabbata (Talaṅgatissapabbata) (q.v.). Ngài là một trong những vị tỳ-kheo đã thọ dụng bữa ăn cháo chua do Duṭṭhagāmaṇī cúng dường khi vị này đang trong cơn nguy khốn vì thiếu thức ăn. Dhammadinna đã chia phần của ngài cho mười nghìn tỳ-kheo ở Piyaṅgudīpa (Mhv.xxxii.52). Ngài cũng được nhắc đến là đã thọ nhận một bữa ăn do Sāliya và vợ cúng dường khi họ là những người thợ rèn trong một kiếp trước (Mhvṭ.606). Dhammadinna có một người cháu trai đã trở thành Arahant trong nhà cạo tóc. Dhammadinna đã đọc cho chú ba tạng (Piṭaka), và chú đã học thuộc lòng tất cả chúng vào dịp đó (Vibha.389). Vị thầy của Dhammadinna là Mahā Nāga xứ Uccatalaṅka (v.l. Uccavālika). Dhammadinna đã đến thăm vị này khi vị này tuổi đã cao, biết rằng, dù chính bản thân vị ấy nghĩ rằng mình đã đạt quả vị Arahant, nhưng sự việc không phải vậy. Bằng cách thể hiện thần thông (iddhi), Dhammadinna đã thuyết phục Mahā Nāga về lỗi lầm của vị ấy và trao cho vị ấy một đề mục thiền. Gần như ngay lập tức sau đó, vị Trưởng lão đã trở thành Arahant (Vibha.489; Vsm.634f). Một lần, khi đang thuyết Apaṇṇakasutta, tại Tissamahārāma, Dhammadinna chỉ quạt của mình xuống dưới, thế rồi mặt đất mở ra cho đến tận đáy địa ngục Avīci, phơi bày mọi thứ đang ở đó. Tương tự như vậy, ngài đã chỉ ra mọi thứ cho đến đỉnh cõi Phạm thiên (Brahma). Trong bài pháp của ngài, ngài đã làm hội chúng khiếp sợ với nỗi sợ hãi địa ngục và dẫn dụ họ bằng niềm an lạc của cõi trời (Vsm.392).
Bản Chú giải Majjhima ghi lại rằng ngay sau khi Dhammadinna xuất gia nhiều tỳ-kheo, nhờ lời khuyên của ngài, đã trở thành các vị Arahant (MNa.i.149ff. Một biến thể về những gì rõ ràng là cùng một câu chuyện được tìm thấy trong ANa.i.25). Nghe được điều này, các tỳ-kheo ở Tissamahārāma đã cử một số đồng bạn của họ đến đón ngài. Ngài thuyết pháp cho họ, và họ đạt quả vị Arahant rồi ở lại với ngài. Chuyện này xảy ra ba lần. Vào lần thứ tư một vị tỳ-kheo lớn tuổi được phái đi. Vị ấy truyền lại thông điệp của các tỳ-kheo và Dhammadinna lập tức khởi hành đến chỗ họ. Trên đường đi, tại Haṅkana (v.l. Taṅgana) và tại Cittalapabbata, ngài đã thuyết phục hai vị tỳ-kheo, những người nghĩ rằng họ là các vị Arahant, thể hiện thần thông (iddhi) của họ, và, qua đó đã thuyết phục họ về lỗi lầm của họ; thế rồi ngài trao cho họ các đề mục thiền định. Khi ngài đến Tissamahārāma, các tỳ-kheo đã không đảnh lễ ngài. Ngài thế rồi làm cho mặt đất rung chuyển và trở về vihāra của chính mình. Saddhammasaṅgaha (p.88f) kể câu chuyện về một con rắn chuột mù đã nghe Dhammadinna tụng các satipaṭṭhāna (niệm xứ) và về sau được sinh làm Tissāmacca, đại thần của Duṭṭhagāmaṇī.
02. Dhammadinna 02 draft
Dhammadinna 02. An eminent lay-follower of the Buddha. He once came with five hundred upāsakas to the Buddha at Isipatana and asked him to give them a lesson which might profit them, for, said he, it is difficult for a householder encumbered with a family and the luxuries of household life to comprehend the Buddha’s teachings in their fullness. The Buddha answers that they should practise the four limbs of Sotāpatti: loyalty to the Buddha, the Dhamma and the Saṅgha, and the cultivation of Āriyan virtues. Dhammadinna answers that they already possess these limbs. The Buddha then expresses his great satisfaction (SN.v.406ff).
The Commentary (SNa.iii.223) says that Dhammadinna was one of seven laymen with followings of five hundred – the others being Visākha, Ugga, Citta, Hatthaka Āḷavaka and Cūḷa Anāthapiṇḍika and Mahā Anāthapiṇḍika.
Dhammadinna 02. Một cư sĩ xuất chúng của Đức Phật. Có lần ông cùng năm trăm upāsaka (nam cư sĩ) đã đến gặp Đức Phật tại Isipatana và thỉnh cầu ngài cho họ một bài học có thể mang lại lợi ích cho họ, bởi vì, ông nói, thật khó cho một gia chủ bị vướng bận gia đình và những thứ xa hoa của đời sống gia đình có thể thấu hiểu những lời dạy của Đức Phật một cách trọn vẹn. Đức Phật trả lời rằng họ nên thực hành bốn chi phần của Sotāpatti (Dự lưu): lòng trung thành với Đức Phật, Pháp và Tăng đoàn, và sự trau dồi các đức hạnh của bậc Thánh. Dhammadinna trả lời rằng họ đã sở hữu những chi phần này rồi. Đức Phật sau đó bày tỏ sự hài lòng lớn lao của ngài (SN.v.406ff).
Bản Chú giải (SNa.iii.223) nói rằng Dhammadinna là một trong bảy cư sĩ có đoàn tùy tùng gồm năm trăm người – những người khác là Visākha, Ugga, Citta, Hatthaka Āḷavaka, Cūḷa Anāthapiṇḍika và Mahā Anāthapiṇḍika.
03. Dhammadinna 03 draft
Dhammadinna 03. A monk of Tissa Mahā Vihāra near Talaṅgarapabbata. Once, while on pilgrimage to Nāgadīpa with 500 others, he stopped at Sāgirivihāra, and they were looked after by Bahulamassutissa Thera. The next day they went for alms to Puṇṇasālakoṭṭhaka, where a resident entertained them to a meal with hare’s flesh. Dhammadinna later asked why Tissa Thera did not admonish his follower on the evils of killing, seeing that there was a heap of bones outside the house. Tissa asked Dhammadinna to do so the next day. This was done; the devotee confessed that he had never killed a hare, but in his house there was never any want of hare’s flesh, and he did not know why. Dhammadinna, with his divine eye, revealed to him that in the time of Padumuttara Buddha he had given alms with hare’s flesh. Ras.ii.128f.
Dhammadinna 03. Một vị sư ở Tissa Mahā Vihāra gần Talaṅgarapabbata. Một lần, trong khi đang hành hương đến Nāgadīpa cùng với 500 người khác, ngài đã dừng lại ở Sāgirivihāra, và họ được chăm sóc bởi Bahulamassutissa Thera. Ngày hôm sau họ đã đi khất thực đến Puṇṇasālakoṭṭhaka, nơi một cư dân đã thết đãi họ một bữa ăn với thịt thỏ rừng. Dhammadinna sau đó hỏi tại sao Tissa Thera không khuyên răn đệ tử của mình về những tội lỗi của việc sát sinh, khi thấy rằng có một đống xương bên ngoài ngôi nhà. Tissa đã yêu cầu Dhammadinna làm điều đó vào ngày hôm sau. Việc này đã được thực hiện; người nam tín đồ đã thú nhận rằng ông chưa bao giờ giết một con thỏ rừng nào, nhưng trong nhà ông chưa bao giờ thiếu thịt thỏ rừng, và ông không biết tại sao. Dhammadinna, với thiên nhãn của ngài, đã tiết lộ cho ông rằng vào thời của Đức Phật Padumuttara ông đã từng cúng dường với thịt thỏ rừng. Ras.ii.128f.
01. Dhammadinnā 01 draft
Dhammadinnā 01. One of the two chief women disciples of Piyadassī Buddha. Bv.xiv.21; Ja.i.39.
Dhammadinnā 01. Một trong hai vị nữ đệ tử thanh văn tối thắng của Đức Phật Piyadassī. Bv.xiv.21; Ja.i.39.
02. Dhammadinnā 02 draft
Dhammadinnā 02. One of the chief supporters, among lay women, of Piyadassī Buddha. Bv.xiv.22.
Dhammadinnā 02. Một trong những nữ thí chủ tối thắng của Đức Phật Piyadassī. Bv.xiv.22.
03. Dhammadinnā 03 draft
Dhammadinnā 03. An eminent Therī, ranked foremost among nuns who possessed the gift of preaching (AN.i.25). She was the wife of Visākha of Rājagaha, and when he, having heard the Buddha preach, became an Anāgāmī, she left the world with the consent of her husband who sent her to the nunnery in a golden palanquin (MNa.i.515 says this was provided by Bimbisāra). Dwelling in solitude, she soon attained Arahant-ship with the four paṭisambhidā (see Thīg.v.12 for a stanza uttered by her). She later returned to Rājagaha to worship the Buddha, and there Visākha asked her questions on the Dhamma, which she answered “as easily as one might cut a lotus-stalk with a knife.” The questions and answers are given in the Cūḷa Vedallasutta (MN.i.299ff). Visākha reported this interview to the Buddha, who praised her great wisdom and commended her eloquence.
In the time of Padumuttara Buddha she was a servant, and one day saw the Buddha’s disciple, Sujāta, begging alms and gave him a curry (Thīga. p.15 says Sujāta had just risen from samādhi). Her master, seeing this, made her his daughter-in-law. Later, while on a visit to the vihāra, she saw a nun declared to be chief of preachers and wished for similar eminence.
In the time of Phussa Buddha she obtained merit by giving to the Buddha’s half-brother double the gift prescribed by her husband (details of this are given in Pv-a., p.21).
In the time of Kassapa Buddha she was born as Sudhammā, the sixth of the seven daughters of Kikī, king of Benares; for twenty thousand years she lived in celibacy (her story is given in Thīga.15ff; Ap.ii.567f; ANa.i.196f; MNa.i.515ff; Dhpa.iv.229ff).
Dhammadinnā was the teacher of Sukhā (Thīga.58).
Dhammadinnā 03. Một vị Therī xuất chúng, được xếp hạng tối thắng trong số các tỳ-kheo-ni sở hữu biệt tài thuyết pháp (AN.i.25). Bà là vợ của Visākha ở Rājagaha, và khi ông, sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp, trở thành một vị Anāgāmī (Bất lai), bà đã từ bỏ thế gian với sự đồng ý của chồng mình, người đã đưa bà đến ni viện trong một chiếc kiệu vàng (MNa.i.515 nói rằng chiếc kiệu này do Bimbisāra chu cấp). Sống trong sự tĩnh cư, bà chẳng bao lâu đã đạt quả vị Arahant với bốn paṭisambhidā (xem Thīg.v.12 để biết một bài kệ do bà thốt lên). Về sau bà đã trở lại Rājagaha để đảnh lễ Đức Phật, và ở đó Visākha đã hỏi bà những câu hỏi về Pháp, mà bà đã trả lời "dễ dàng như người ta có thể cắt một cọng ngó sen bằng dao." Những câu hỏi và trả lời được đưa ra trong Cūḷa Vedallasutta (MN.i.299ff). Visākha đã tường thuật lại cuộc đối thoại này cho Đức Phật, ngài đã tán dương trí tuệ lớn lao của bà và khen ngợi tài hùng biện của bà.
Vào thời của Đức Phật Padumuttara bà là một người hầu, và một ngày nọ nhìn thấy vị đệ tử của Đức Phật, Sujāta, đang đi khất thực và đã cúng dường ngài một món cà ri (Thīga. p.15 nói rằng Sujāta vừa mới xuất khỏi samādhi). Ông chủ của bà, thấy vậy, đã nhận bà làm con dâu. Về sau, trong một chuyến đi đến vihāra, bà nhìn thấy một vị ni được tuyên bố là tối thắng về thuyết pháp và đã mong ước được sự xuất chúng tương tự.
Vào thời của Đức Phật Phussa bà đã đạt được công đức nhờ cúng dường cho người anh em cùng cha khác mẹ của Đức Phật món quà gấp đôi mức chồng bà chỉ định (chi tiết về điều này được đưa ra trong Pv-a., p.21).
Vào thời của Đức Phật Kassapa bà được sinh làm Sudhammā, người thứ sáu trong bảy người con gái của Kikī, vua xứ Benares; trong hai mươi nghìn năm bà đã sống độc thân (câu chuyện của bà được đưa ra trong Thīga.15ff; Ap.ii.567f; ANa.i.196f; MNa.i.515ff; Dhpa.iv.229ff).
Dhammadinnā là giáo thọ sư của Sukhā (Thīga.58).