Uttiya draft, redirect

01. Uttiya 01 draft

Uttiya 01. Uttika. He was the son of a Brahmin of Sāvatthī. When he came of age, he left the world, seeking “the Deathless,” and became a Paribbājaka. One day, on his travels, he came to the place where the Buddha was preaching and entered the Saṅgha, but because of the impurity of his morals he could not win his goal. Seeing other bhikkhus who had achieved their object, he asked the Buddha for a lesson in brief. The Buddha gave him a short lesson, which he used for his meditations. During these meditations he fell ill, but in his anxiety he put forth every effort and became an Arahant (Thag.v.30; Thag­a.i.89f).

In the time of Siddhattha Buddha he was a crocodile in the river Candabhāgā. One day, seeing the Buddha’s desire to cross to the other bank, the crocodile offered him its back to sit on and took him across.

Seven times he was king of the Devas, and three times ruler of men (Ap.i.79-80). This Uttiya is evidently identical with the Thera of the same name mentioned in the Saṁyuttanikāya. In one Sutta (SN.v.22) the Buddha explains to him, in answer to his question, the character of the five sensual elements and the necessity for their abandonment. Elsewhere (SN.v.166) he is represented as asking the Buddha for a lesson in brief, which the Buddha gives him. Dwelling in solitude, he meditates on this and becomes an Arahant.

Perhaps he is also identical with Uttiya Paribbājaka, who is represented in the Aṅguttaranikāya (AN.v.193ff) as asking the Buddha various questions on the duration of the world, etc., and as being helped by Ānanda to understand the real import of the Buddha’s answers.

Uttiya 01. Uttika. Ông là con trai của một người Bà-la-môn ở Sāvatthī. Khi đến tuổi trưởng thành, ông xuất gia tìm kiếm "Bất tử" và trở thành một Paribbājaka. Một ngày, trong lúc du hành, ông đến nơi Đức Phật đang thuyết pháp và gia nhập Tăng đoàn, nhưng do giới đức chưa trong sạch, ông không thể đạt được mục tiêu. Thấy các vị tỳ-kheo khác đã đạt được mục tiêu, ông cầu xin Đức Phật cho một bài học ngắn gọn. Đức Phật cho ông một bài học ngắn, ông dùng để thiền định. Trong khi thiền định, ông lâm bệnh, nhưng vì lo lắng, ông đã nỗ lực hết mình và đắc quả Arahant (Thag.v.30; Thag­a.i.89f).

Vào thời Siddhattha Buddha, ông là một con cá sấu sống trong sông Candabhāgā. Một ngày, thấy Đức Phật muốn sang bờ kia, con cá sấu đã chờm lưng cho ngài ngồi và đưa ngài qua sông.

Bảy lần ông là vua của chư thiên, và ba lần là vua của người (Ap.i.79-80). Uttiya này rõ ràng là đồng nhất với vị Trưởng lão cùng tên được đề cập trong Saṁyuttanikāya. Trong một Sutta (SN.v.22), Đức Phật giải thích cho ông, khi ông hỏi, về bản chất của năm dục phần và sự cần thiết phải từ bỏ chúng. Ở một nơi khác (SN.v.166), ông được miêu tả là cầu xin Đức Phật một bài học ngắn gọn, và Đức Phật cho ông. Sống trong cô tịch, ông thiền định về điều đó và đắc quả Arahant.

Có lẽ ông cũng đồng nhất với Uttiya Paribbājaka, người được miêu tả trong Aṅguttaranikāya (AN.v.193ff) là đã hỏi Đức Phật nhiều câu hỏi về thời gian tồn tại của thế giới, v.v., và được Ānanda giúp hiểu ý nghĩa thực sự trong các câu trả lời của Đức Phật.

02. Uttiya 02 draft

Uttiya 02. Uttiya Thera. He was one of four companions – the others being Godhika, Subāhu and Valliya – who were born at Pāvā as the sons of four Malla-rājās. They were great friends, and once went together on some embassy to Kapilavatthu. There they saw the Buddha’s Twin Miracle, and, entering the Saṅgha, they soon became Arahants. When they went to Rājagaha, Bimbisāra invited them to spend the rainy season there and built for each of them a hut, carelessly omitting, however, to have the huts roofed. So the Theras dwelt in the huts unsheltered. For a long time there was no rain and the king, wondering thereat, remembered his neglect and had the huts thatched, plastered and painted. He then held a dedication festival and gave alms to the Saṅgha. The Elders went inside the huts and entered into a meditation of love. Forthwith the sky darkened in the west and rains fell.

In the time of Siddhattha Buddha the four were householders and friends; one of them gave to the Buddha a ladleful of food, another fell prostrate before the Buddha and worshipped him, the third gave him a handful of flowers, while the fourth paid him homage with sumana-flowers.

In Kassapa’s time, too, they were friends and entered the Saṅgha together. Thag.vv.51-4; Thag­a.i.123-6.

Uttiya 02. Uttiya Thera. Ông là một trong bốn người bạn đồng hành — những người kia là Godhika, Subāhu và Valliya — được sinh ra tại Pāvā là con trai của bốn Malla-rājā. Họ là những người bạn thân thiết, và một lần cùng nhau đi sứ đến Kapilavatthu. Tại đó, họ được chứng kiến Song thông của Đức Phật, và sau khi gia nhập Tăng đoàn, họ sớm đắc quả Arahant. Khi họ đến Rājagaha, Bimbisāra mời họ an cư mùa mưa tại đó và xây cho mỗi người một căn thất, nhưng lại bất cẩn quên không lợp mái. Vì vậy các Trưởng lão ở trong các căn thất không có mái che. Trong một thời gian dài không có mưa, nhà vua suy nghĩ về điều đó, nhớ ra sự sơ suất của mình và cho lợp mái, trát vữa và sơn các căn thất. Sau đó nhà vua tổ chức lễ khánh thành và bố thí cho Tăng đoàn. Các Trưởng lão vào trong các căn thất và nhập vào thiền định từ bi. Ngay lập tức, bầu trời phía tây sậm lại và mưa đổ xuống.

Vào thời Siddhattha Buddha, bốn vị là những người cư sĩ và bạn bè; một người dâng cho Đức Phật một muỗng thức ăn, người khác sấp mình trước Đức Phật và đảnh lễ, người thứ ba dâng một nắm hoa, trong khi người thứ tư cúng dường ngài bằng hoa sumana.

Vào thời Kassapa, họ cũng là bạn bè và cùng gia nhập Tăng đoàn. Thag.vv.51-4; Thag­a.i.123-6.

03. Uttiya 03 draft

Uttiya 03. Uttiya Thera. He was a Sākyan of Kapilavatthu. When the Buddha visited his kinsmen and showed them his power, Uttiya was converted and entered the Saṅgha. One day, while begging in the village, he heard a woman singing and his mind was disturbed. Checking himself, he entered the vihāra much agitated and spent the siesta, seated, striving with such earnestness that he won Arahant-ship (Thag.v.99; Thag­a.i.202-3).

In the time of Sumedha Buddha he was a householder and gave to the Buddha a bed, complete with canopy and rug.

Twenty kappas ago he was three times king under the name of Suvaṇṇābha.

He is probably identical with Pallaṅkadāyaka of the Apadāna (Ap.i.175).

Uttiya 03. Uttiya Thera. Ông là người Sākyan ở Kapilavatthu. Khi Đức Phật đến thăm thân quyến và biểu hiện thần lực, Uttiya được cảm hóa và gia nhập Tăng đoàn. Một ngày, trong khi đang đi khất thực trong làng, ông nghe một người phụ nữ hát và tâm ông bị xao động. Tự kiềm chế, ông bước vào vihāra trong trạng thái rất bất an và trải qua giờ nghỉ trưa trong tư thế ngồi, nỗ lực với sự chuyên cần đến mức đắc quả Arahant (Thag.v.99; Thag­a.i.202-3).

Vào thời Sumedha Buddha, ông là một người cư sĩ và dâng cho Đức Phật một chiếc giường, đầy đủ tán và tấm trải.

Hai mươi kappas trước, ông ba lần làm vua với tên hiệu Suvaṇṇābha.

Ông có lẽ đồng nhất với Pallaṅkadāyaka trong Apadāna (Ap.i.175).

04. Uttiya 04 draft

Uttiya 04. In the Kathāvatthu (i.268) mention is made of a householder Uttiya, together with Yasa kulaputta and Setu māṇava, as having attained Arahant-ship while living amid the circumstances of a layman’s life.

Uttiya 04. Trong Kathāvatthu (i.268) có đề cập đến một người cư sĩ tên Uttiya, cùng với Yasa kulaputta và Setu māṇava, là những người đã đắc quả Arahant khi vẫn còn sống trong hoàn cảnh của một cư sĩ.

05. Uttiya 05 draft

Uttiya 05. One of the Theras who accompanied Mahinda on his mission to Ceylon (Mhv.xii.8; Dpv.xii.12; Vin-a.i.70; Mbv.116). King Sirimeghavaṇṇa had an image of Uttiya made and placed in the image house which he built at the south-eastern corner of his palace. Cv.xxxvii.87.

Uttiya 05. Một trong những Trưởng lão đã tháp tùng Mahinda trong chuyến truyền giáo đến Tích Lan (Mhv.xii.8; Dpv.xii.12; Vin-a.i.70; Mbv.116). Vua Sirimeghavaṇṇa đã cho đúc một tượng của Uttiya và đặt trong nhà thờ tượng mà ông xây ở góc đông nam cung điện. Cv.xxxvii.87.

06. Uttiya 06 draft

Uttiya 06. King of Ceylon for ten years (207-197 B.C.) (Dpv.xii.75; Mhv.xx.57). He was the fourth son of Muṭasīva and succeeded Devānampiyatissa. In the eighth year of his reign died Mahinda (Mhv.xx.33), and in the ninth, Saṅghamittā (Mhv.xx.49). He held great celebrations in honour of these two illustrious dead and built Thūpas in various places over their ashes. The Mahā Vaṁsaṭīkā (p.253) adds that Uttiya built a cetiya at the Somanassamālaka.

Uttiya 06. Vua Tích Lan trong mười năm (207-197 B.C.) (Dpv.xii.75; Mhv.xx.57). Ông là người con trai thứ tư của Muṭasīva và kế vị Devānampiyatissa. Vào năm thứ tám triều đại của ông, Mahinda viên tịch (Mhv.xx.33), và vào năm thứ chín, Saṅghamittā (Mhv.xx.49). Ông tổ chức những lễ kỷ niệm trọng thể để vinh danh hai vị danh nhân đã khuất này và xây dựng bảo tháp (Thūpas) ở nhiều nơi để thờ tro cốt của họ. Mahā Vaṁsaṭīkā (p.253) còn thêm rằng Uttiya đã xây một cetiya tại Somanassamālaka.

07. Uttiya 07 draft

Uttiya 07. One of the seven warriors of King Vaṭṭagāmaṇī. He built the Dakkhiṇavihāra to the south of Anurādhapura. Mhv.xxxiii.88.

Uttiya 07. Một trong bảy chiến binh của vua Vaṭṭagāmaṇī. Ông đã xây dựng Dakkhiṇavihāra ở phía nam Anurādhapura. Mhv.xxxiii.88.

08. Uttiya 08 redirect

Redirect target: Ayya Uttiya

Uttiya 08. See Ayya Uttiya.

Chưa dịch.