Damiḷa draft
Damiḷa, Damiḷas. The name of a people (Tamils) whose home was in South India. The Ceylon Chronicles (Mhv., Cv., and Dpv., passim) contain records of invasions of Ceylon by the Damiḷas, the most noteworthy being that which was repelled by Duṭṭhagāmaṇī. The Damiḷa leader on that occasion was Eḷāra. Other Damiḷas mentioned by name in the Mahā Vaṁsa are Sena, Gutta, Pulahattha, Vaṭuka and Niliya. Large numbers of Damiḷas settled in Ceylon, chiefly in the north and east of the Island and, in due course, gained possession of that part of the country. They were employed as mercenary soldiers by some of the Sinhalese kings and many were brought as captives (e.g., Cv.lxx.230; lxxv.20, 69; lxxviii.76, etc.). The Damiḷa bhāsā is mentioned among the eighteen non-Aryan languages (e.g., Vibha.388; it was full of consonants, ANa.i.409). In the Akittijātaka (Ja.iv.238) the Damiḷaraṭṭha is spoken of as including also the region round Kāvīrapaṭṭana, while in the Petavatthu Commentary (p.133) it is spoken of as part of Dakkhiṇapātha.
Damiḷa, Damiḷas. Tên của một dân tộc (người Tamil) có quê hương ở Nam Ấn. Các biên niên sử Tích Lan (Mhv., Cv., và Dpv., passim) chứa các ghi chép về những cuộc xâm lược Tích Lan của những người Damiḷa, trong đó đáng chú ý nhất là cuộc xâm lược đã bị Duṭṭhagāmaṇī đẩy lùi. Thủ lĩnh của người Damiḷa trong dịp đó là Eḷāra. Những người Damiḷa khác được nhắc đến tên trong Mahā Vaṁsa là Sena, Gutta, Pulahattha, Vaṭuka và Niliya. Số lượng lớn người Damiḷa đã định cư ở Tích Lan, chủ yếu ở phía bắc và phía đông của hòn đảo, và theo thời gian, đã giành quyền kiểm soát phần đất đó của đất nước. Họ được một số vị vua Sinhalese thuê làm lính đánh thuê và nhiều người đã bị bắt làm tù binh (e.g., Cv.lxx.230; lxxv.20, 69; lxxviii.76, etc.). Tiếng Damiḷa (bhāsā) được nhắc đến trong số mười tám ngôn ngữ không thuộc gốc Aryan (e.g., Vibha.388; ngôn ngữ này có đầy các phụ âm, ANa.i.409). Trong Akittijātaka (Ja.iv.238), Damiḷaraṭṭha được nói đến như là bao gồm cả vùng xung quanh Kāvīrapaṭṭana, trong khi ở chú giải Petavatthu (p.133), nó được nói đến như là một phần của Dakkhiṇapātha.