Anula draft, redirect

01. Anula 01 draft

Anula 01. A Thera, incumbent of the Koṭipabbata Mahā Vihāra in Ceylon. He evidently possessed the celestial eye and, seeing how Sumana, wife of Lakuṇṭaka Atimbara, had once been a pig, he expressed marvel that such things should happen. She heard his exclamation, and having learnt from him the story of that past life, she herself got the power of seeing her past lives. Dhp­a.iv.50-1.

Anula 01. Một Trưởng lão, vị trụ trì Mahā Vihāra Koṭipabbata ở Ceylon. Rõ ràng vị ấy có thiên nhãn và, khi thấy Sumana, vợ của Lakuṇṭaka Atimbara, từng là một con heo, vị ấy bày tỏ sự kinh ngạc rằng những việc như vậy lại xảy ra. Bà nghe lời cảm thán của vị ấy, và sau khi biết từ vị ấy câu chuyện về đời sống quá khứ ấy, chính bà cũng đạt được năng lực thấy các đời sống quá khứ của mình. Dhp­a.iv.50-1.

02. Anula 02 redirect

Anula 02. See Mahā Anula.

Chưa dịch.

01. Anulā 01 draft

Anulā 01. Daughter of Muṭasiva, King of Ceylon, and wife of Mahā Nāga, who was brother and sub-king to Devānampiyatissa. With five hundred other women she heard Mahinda preach the Petavatthu, the Vimānavatthu and the Saccasaṁyutta, and together with the others became a Stream-enterer (Mhv.xiv.56-7; Dpv.xi.8; xii.82). Later, hearing the sermon preached by Mahinda in the Mahā Meghavana, she, with others, became a Sakadāgāmī, and expressed to the king their wish to receive ordination. It was to enable these to be ordained that Saṅghamittā was sent for (Mhv.xv.18-19; Vin-a.i.90ff.; Dpv.xv.73ff). Until the arrival of Saṅghamittā, Anulā and her companions observed the ten precepts and lived in the Upāsikāvihāra. Mhv.xviii.9-12. The Ṭīkā (p.388) says they took on the ekāsanikaṅga vow eating at one sitting as well; see also Mbv. pp.121, 144, 167.

After her ordination Anulā became an Arahant (Mhv.xix.65; xvi.41) and was the first woman Arahant in Ceylon.

Anulā 01. Con gái của Muṭasiva, vua Ceylon, và là vợ của Mahā Nāga, em trai và phó vương của Devānampiyatissa. Cùng với năm trăm phụ nữ khác, bà nghe Mahinda thuyết Petavatthu, VimānavatthuSaccasaṁyutta, và cùng với những người khác trở thành bậc Dự lưu (Mhv.xiv.56-7; Dpv.xi.8; xii.82). Về sau, khi nghe bài pháp do Mahinda thuyết tại Mahā Meghavana, bà, cùng với những người khác, trở thành một Sakadāgāmī, và bày tỏ với nhà vua nguyện vọng được thọ giới xuất gia. Chính để những người này có thể được thọ giới mà Saṅghamittā được thỉnh mời đến (Mhv.xv.18-19; Vin-a.i.90ff.; Dpv.xv.73ff). Cho đến khi Saṅghamittā đến, Anulā và các bạn đồng hành của bà giữ mười giới và sống trong Upāsikāvihāra. Mhv.xviii.9-12. Ṭīkā (p.388) nói rằng họ cũng thọ trì hạnh nguyện ekāsanikaṅga, ăn trong một lần ngồi; xem thêm Mbv. pp.121, 144, 167.

Sau khi thọ giới, Anulā trở thành một Arahant (Mhv.xix.65; xvi.41) và là nữ Arahant đầu tiên ở Ceylon.

02. Anulā 02 draft

Anulā 02. Widow of Khallāṭanāga, King of Ceylon, and later wife of Vaṭṭagāmaṇī (Mhv.xxxiii.35, 36). When Vaṭṭagāmaṇī had to flee from his enemies, she was the only one of his wives whom he took with him, because she was with child (Mhv.xxxiii.45). Later, when they were hiding in Malaya, under the protection of Tanasiva, Anulā quarrelled with the wife of Tanasiva and, as a result, Vaṭṭagāmaṇī killed him. (Mhv.xxxiii.62ff).

Anulā 02. Góa phụ của Khallāṭanāga, vua Ceylon, và về sau là vợ của Vaṭṭagāmaṇī (Mhv.xxxiii.35, 36). Khi Vaṭṭagāmaṇī phải chạy trốn khỏi kẻ thù, bà là người vợ duy nhất mà ông đưa đi cùng, vì bà đang mang thai (Mhv.xxxiii.45). Về sau, khi họ ẩn náu ở Malaya dưới sự che chở của Tanasiva, Anulā cãi nhau với vợ của Tanasiva và, do đó, Vaṭṭagāmaṇī giết ông ta. (Mhv.xxxiii.62ff).

03. Anulā 03 draft

Anulā 03. Wife of Coranāga and Queen of Ceylon for four months (in CE 12-16). She was a lewd woman and killed her husband that she might marry Mahā Cūḷa’s son, Tissa. She soon got tired of him and poisoned him. Then, in succession, she had as husbands Siva, a palace guard; Vaṭuka, a Tamil carpenter; Tissa, a woodcarrier; the Damiḷa Niliya, a palace priest – all of whom she removed by poisoning. The last one she killed because she wished to live indiscriminately with thirty-two palace guards.

In the end she was killed by Kuṭakaṇṇatissa (Mhv.xxxiv.16-34; Dpv.xix.50ff).

Anulā 03. Vợ của Coranāga và là hoàng hậu Ceylon trong bốn tháng (vào CE 12-16). Bà là một phụ nữ dâm đãng và đã giết chồng để có thể cưới Tissa, con trai của Mahā Cūḷa. Chẳng bao lâu bà chán ông ta và đầu độc ông ta. Rồi, lần lượt, bà lấy làm chồng Siva, một lính canh cung điện; Vaṭuka, một thợ mộc Tamil; Tissa, một người gánh củi; Damiḷa Niliya, một tế sư cung điện - tất cả những người này bà đều loại bỏ bằng thuốc độc. Người cuối cùng bị bà giết vì bà muốn sống buông thả với ba mươi hai lính canh cung điện.

Cuối cùng bà bị Kuṭakaṇṇatissa giết (Mhv.xxxiv.16-34; Dpv.xix.50ff).

04. Anulā 04 draft

Anulā 04. The chief woman-disciple of Kassapa Buddha. Bv.xxv.40; Ja.i.43.

Anulā 04. Nữ đệ tử hàng đầu của Kassapa Buddha. Bv.xxv.40; Ja.i.43.

05. Anulā 05 draft

Anulā 05. Daughter of Cūḷa Seṭṭhi of Benares. She lived with her husband in Andhakavinda, and after her father’s death she fed Brahmins in his name, but this pious act was of no benefit to him (Pv-a.105ff).

Anulā 05. Con gái của Cūḷa Seṭṭhi ở Benares. Bà sống với chồng tại Andhakavinda, và sau khi cha bà qua đời, bà cúng dường thức ăn cho các Bà-la-môn nhân danh ông, nhưng việc phước thiện này không đem lại lợi ích gì cho ông (Pv-a.105ff).

06. Anulā 06 draft

Anulā 06. One of the chief women-supporters of Maṅgala Buddha (Bv.iv.25).

Anulā 06. Một trong những nữ thí chủ chính của Maṅgala Buddha (Bv.iv.25).