Malaya draft

01. Malaya 01 draft

Malaya 01. A mountainous district in South India, e.g., Ja.iv.327; Cv.lxxvi.195.

Malaya 01. Một vùng đồi núi ở miền Nam Ấn Độ, ví dụ, Ja.iv.327; Cv.lxxvi.195.

02. Malaya 02 draft

Malaya 02. The mountainous country of Ceylon, originally the home of the Pulindā (Mhv.vii.68; see Mhv.Trs.60, n.5). When Duṭṭhagāmaṇī fled from his father’s wrath, it was in Malaya that he hid (Mhv.xxiv.7). In Malaya was the Ambaṭṭhakolalena, from which Duṭṭhagāmaṇī obtained silver for the Mahā Thūpa (Mhv.xxviii.20). The hill country provided protection from marauders who invaded Ceylon (e.g., in the case of Vaṭṭagāmaṇī; Mhv.xxxiii.62; also xxxv.26), and also from those causing danger to the rightful ruler (e.g., ibid., xxxvi.50; Cv.xli.20; l.20). When Buddhism was threatened by the activities of unbelievers who had obtained possession of Anurādhapura, it was to Malaya and to Rohaṇa that the monks fled in order to save themselves and their teaching (e.g., Mhv.xxxvii.6). Malaya also afforded shelter to rebels against the government both during preparations for attack and, if necessary, during their flight (e.g., Cv.xli.10; xliv.62; xlviii.98; li.112f.; lvii.47, 57).

In later times Malaya was treated as a special province, and was in charge of an official called Malayarāja, who was generally the king’s younger son, the elder being viceroy in charge of the Eastern Province (Pācīnadesa). The district of Dakkhiṇadesa was included in Malaya (See Cv.xli.33ff.; lii.68; Cv.Trs.i.54, n.4; but see Cv.xlii.6, 10; xliv.43 li.13; liii.36), but it was later separated (Cv.li.8). The Yuvarāja himself was sometimes Malayarājā, particularly when the other provinces were in the hands of enemies (e.g., Cv.lviii.7). Mention is also made (Cv.lxix.6) of a Malayarājā who was in charge of a Damiḷa army (probably of mercenaries). In times of war the people of Malaya usually gave a great deal of trouble as the country was difficult of access (e.g., Cv.lxx.30). Some of the villages in Malaya were composed of only one house. Vin-a.ii.298.

Malaya 02. Xứ sở đồi núi của Tích Lan, nguyên gốc là quê hương của những người Pulindā (Mhv.vii.68; xem Mhv.Trs.60, n.5). Khi Duṭṭhagāmaṇī chạy trốn khỏi cơn thịnh nộ của vua cha, ông đã lẩn trốn tại Malaya (Mhv.xxiv.7). Trong vùng Malaya có Ambaṭṭhakolalena, từ nơi này Duṭṭhagāmaṇī đã thu được bạc để cất Mahā Thūpa (Mhv.xxviii.20). Vùng đồi núi này cung cấp sự bảo vệ khỏi những kẻ cướp bóc tấn công Tích Lan (ví dụ, trong trường hợp của Vaṭṭagāmaṇī; Mhv.xxxiii.62; cũng xem xxxv.26), và cũng khỏi những kẻ gây nguy hiểm cho người cai trị hợp pháp (ví dụ, sđd., xxxvi.50; Cv.xli.20; l.20). Khi Phật giáo bị đe dọa bởi những hoạt động của những kẻ vô tín ngưỡng vốn đã chiếm giữ Anurādhapura, các Tỳ-kheo đã trốn đến Malaya và Rohaṇa để bảo vệ tính mạng bản thân cũng như giáo pháp của mình (ví dụ, Mhv.xxxvii.6). Malaya cũng cung cấp nơi trú ẩn cho những kẻ nổi loạn chống lại triều đình, cả trong suốt quá trình chuẩn bị tấn công cũng như khi chạy trốn, nếu cần (ví dụ, Cv.xli.10; xliv.62; xlviii.98; li.112f.; lvii.47, 57).

Vào các thời kỳ sau này, Malaya được coi là một tỉnh đặc biệt, và nằm dưới quyền kiểm soát của một viên quan gọi là Malayarāja, người thường là người con trai thứ của nhà vua, còn người con trai trưởng thì làm phó vương phụ trách Tỉnh phía Đông (Pācīnadesa). Vùng Dakkhiṇadesa cũng được gộp vào trong Malaya (Xem Cv.xli.33ff.; lii.68; Cv.Trs.i.54, n.4; nhưng xem Cv.xlii.6, 10; xliv.43 li.13; liii.36), nhưng về sau đã được tách ra (Cv.li.8). Chính vị Yuvarāja đôi khi cũng là Malayarājā, đặc biệt là khi các tỉnh khác đang nằm trong tay kẻ thù (ví dụ, Cv.lviii.7). Cũng có sự đề cập (Cv.lxix.6) đến một vị Malayarājā vốn là người thống lĩnh đội quân Damiḷa (có thể là quân đánh thuê). Trong thời kỳ chiến tranh, người dân xứ Malaya thường gây ra rất nhiều rắc rối do vùng đất này rất khó tiếp cận (ví dụ, Cv.lxx.30). Có vài ngôi làng ở Malaya chỉ bao gồm một căn nhà. Vin-a.ii.298.

03. Malaya 03 draft

Malaya 03. The mountainous district of Rāmañña. Cv.lxxvi.22.

Malaya 03. Khu vực đồi núi của xứ Rāmañña. Cv.lxxvi.22.