Malaya Mahā Deva Thera draft

Malaya Mahā Deva Thera (v.l. Maliya Mahā Deva Thera, Malliyadeva Thera). An Arahant. During the Akkhakkhāyika famine, Duṭṭhagāmaṇī provided him and four others with a dish of sour millet gruel, which was purchased with the proceeds of the sale of the king’s earrings (Mhv.xxxii.30). Mahā Deva took his portion to Sumanakūṭa and shared it with nine hundred others (Mhv.xxxii.49). He was also among the eight Arahants who accepted a meal of pork from Sāliya in his previous birth as a blacksmith (Mhv­ṭ.606). He was probably so-called because he lived at Koṭapabbata in the Malaya country. Mhv­ṭ.606 he is called Koṭapabbatavāsika.

It is said that for three years after his ordination Mahā Deva lived in the Maṇḍalārāmaka vihāra (Mahā Deva called Maliyadeva in the context (AN­a.i.22), but further on in the same passage (p.23) he is addressed as Mahā Deva). One day, while going for alms in Kallagāma, near by, he was invited by an upāsikā to her dwelling, where she gave him a meal, and, regarding him as a son, invited him to take all his meals at her home. The invitation was accepted, and each day, after the meal, he would return thanks with the words “May you be happy and free from sorrow” (sukhaṁ hotu, dukkhā mucca). At the end of the rainy season he became an Arahant, and the chief incumbent of the Vihāra entrusted him with the task of preaching to the assembled people on the Pavāraṇa Day. The young novices informed the upāsikā that her “son” would preach that day, but she, thinking they were making fun of her, said that not everyone could preach. But they persuaded her to go to the vihāra, and, when the turn of Maliyadeva came, he preached all through the night. At dawn he stopped, and the upāsikā became a Sotāpanna.

Maliyadeva once preached the Chachakkasutta in the Lohāpāsāda, and sixty monks, who listened to him, became Arahants. He also preached the same Sutta in the Mahā Maṇḍapa, in the Mahā Vihāra, at Cetiyapabbata, at Sākyavaṁsa vihāra, at Kuṭāli vihāra, at Antarasobbha, Mutiṅgana, Vātakapabbata, Pācīnagharaka, Dīghavāpī, Lokaṇḍara, and Gameṇḍavāḷa, and, at each place, sixty monks attained Arahant-ship. At Cittalapabbata he saw a monk of over sixty preparing to bathe at Kuruvakatittha, and asked permission to bathe him. The Elder, discovering from his conversation that he was Maliyadeva, agreed to let him do so, though, he said, no one had ever touched his body during sixty years. Later in the day, the Elder begged Maliyadeva to preach to him, and this he did. Sixty monks, all over sixty, were among the audience, and at the conclusion of the Chachakkasutta they all became Arahants. The same thing happened at Tissa Mahā Vihāra, Kalyāṇi vihāra, Nāgamahā vihara, Kalacchagāma, and at other places, sixty in all (MN­a.ii.1024f).

Malaya Mahā Deva was among those various large groups who renounced the world in the company of the Bodhisatta: the Kuddāla samāgama, Mūgapakkha samāgama, Cūḷa Sutasoma samāgama, Ayogharapaṇḍita samāgama and Hatthipāla samāgama (Ja.iv.490; also vi.30, where Mahā Maliyadeva is called Kāḷavelavāsī). It is said (Vsm.241) that two monks once asked Malaya Mahā Deva for a subject of meditation, and that he gave them the formula of the thirty-two parts of the body. Though versed in the three Nikāyas, the monks could not become Sotāpannas until they had recited the formula for a period of four months.

Malaya Mahā Deva Thera (v.l. Maliya Mahā Deva Thera, Malliyadeva Thera). Một vị Arahant. Trong nạn đói Akkhakkhāyika, Duṭṭhagāmaṇī đã cúng dường cho ngài và bốn người khác một bát cháo kê chua, được mua bằng số tiền bán đôi bông tai của nhà vua (Mhv.xxxii.30). Mahā Deva đã mang phần của mình lên núi Sumanakūṭa và chia sẻ với chín trăm vị khác (Mhv.xxxii.49). Ngài cũng nằm trong số tám vị Arahant đã nhận bữa ăn bằng thịt heo từ Sāliya trong kiếp sống trước đó của người này làm thợ rèn (Mhv­ṭ.606). Ngài có lẽ được gọi như vậy vì ngài đã cư trú tại Koṭapabbata ở xứ Malaya. Ở Mhv­ṭ.606 ngài được gọi là Koṭapabbatavāsika.

Người ta nói rằng, ba năm sau khi xuất gia, Mahā Deva đã trú ngụ tại vihāra Maṇḍalārāmaka (Mahā Deva được gọi là Maliyadeva ở đoạn văn đó (AN­a.i.22), nhưng xa hơn nữa trong cùng đoạn văn (p.23), ngài lại được gọi là Mahā Deva). Một ngày nọ, khi đang đi khất thực ở Kallagāma gần đó, ngài được một nữ cư sĩ (upāsikā) mời đến nhà bà, nơi bà đã dâng cúng một bữa ăn cho ngài, và, xem ngài như một người con trai, đã mời ngài thọ thực tất cả các bữa ăn tại nhà bà. Lời mời đã được chấp nhận, và mỗi ngày, sau bữa ăn, ngài đều sẽ nói lời cảm ơn: "Cầu mong bà được hạnh phúc và thoát khỏi sầu muộn" (sukhaṁ hotu, dukkhā mucca). Vào cuối mùa an cư, ngài trở thành một Arahant, và vị viện chủ của Vihāra đã giao cho ngài nhiệm vụ thuyết pháp cho mọi người đang tụ tập vào Ngày Pavāraṇa. Các sa-di trẻ đã báo cho người upāsikā biết rằng "con trai" của bà sẽ thuyết pháp vào ngày hôm đó, nhưng bà, do nghĩ rằng họ đang trêu chọc mình, đã nói rằng không phải ai cũng có thể thuyết pháp. Nhưng họ đã thuyết phục bà đi đến vihāra, và, khi đến lượt Maliyadeva, ngài đã thuyết pháp suốt đêm. Đến lúc bình minh, ngài dừng lại, và vị upāsikā đã chứng quả Sotāpanna.

Maliyadeva từng thuyết bài kinh Chachakkasutta tại Lohāpāsāda, và sáu mươi Tỳ-kheo ngồi lắng nghe ngài đã chứng quả Arahant. Ngài cũng thuyết lại chính Sutta đó ở Mahā Maṇḍapa, ở Mahā Vihāra, ở Cetiyapabbata, ở vihāra Sākyavaṁsa, ở vihāra Kuṭāli, ở Antarasobbha, Mutiṅgana, Vātakapabbata, Pācīnagharaka, Dīghavāpī, Lokaṇḍara, và Gameṇḍavāḷa, và, tại mỗi nơi, đều có sáu mươi Tỳ-kheo đạt quả vị Arahant. Tại Cittalapabbata, ngài trông thấy một vị Tỳ-kheo trên sáu mươi tuổi đang chuẩn bị tắm ở Kuruvakatittha, và đã xin phép tắm cho vị đó. Vị Trưởng lão, qua trò chuyện, nhận ra rằng ngài chính là Maliyadeva, liền đồng ý để ngài làm việc đó, dù cho ngài nói rằng, chưa một ai từng chạm vào người của ngài trong suốt sáu mươi năm qua. Cuối ngày hôm đó, vị Trưởng lão đã cung thỉnh Maliyadeva thuyết pháp cho ngài nghe, và Maliyadeva đã đồng ý. Có sáu mươi Tỳ-kheo, tất cả đều trên sáu mươi tuổi, nằm trong số các thính chúng, và khi bài kinh Chachakkasutta kết thúc, tất cả họ đều trở thành Arahant. Cùng sự việc này cũng đã diễn ra ở Tissa Mahā Vihāra, vihāra Kalyāṇi, vihara Nāgamahā, Kalacchagāma, và ở những nơi khác, tổng cộng là sáu mươi (MN­a.ii.1024f).

Malaya Mahā Deva là một trong số những nhóm người đông đảo khác nhau đã từ bỏ đời sống gia đình trong hội chúng của Bodhisatta: samāgama Kuddāla, samāgama Mūgapakkha, samāgama Cūḷa Sutasoma, samāgama Ayogharapaṇḍita và samāgama Hatthipāla (Ja.iv.490; cũng xem vi.30, nơi Mahā Maliyadeva được gọi là Kāḷavelavāsī). Người ta kể lại rằng (Vsm.241) có lần hai Tỳ-kheo đã đến xin Malaya Mahā Deva một đề mục thiền định, và ngài đã truyền cho họ công thức về ba mươi hai thể trược của cơ thể. Mặc dù tinh thông ba bộ Nikāya, hai Tỳ-kheo này vẫn không thể chứng quả Sotāpanna cho đến khi họ tụng đọc công thức này trong khoảng thời gian bốn tháng.