Dīghavāpi draft

Dīghavāpi. A tank and a district in Ceylon. When the Buddha went to Ceylon he visited the village, and on the spot where he sat in meditation a cetiya was later erected (Mhv.i.78; Dpv.ii.60; Vin-a.i.89). It seems to have been the central post in the country lying between the Tamil kingdom and the province of Rohaṇa. Thus we find Duṭṭhagāmaṇī’s brother, Tissa, occupying it by the order of his father. Later, on the death of his father, he retired to Dīghavāpi with his mother and the elephant Kaṇḍula (Mhv.xxiv.2, 14f, 48). When he made peace with his brother, he was again sent there to look after the district.

After the conquest of the Tamils, Tissa was again in charge of Dīghavāpi, for we find him being sent for from there at the time of Duṭṭhagāmaṇī’s death (Mhv.xxxii.2). Tissa (afterwards called Saddhātissa) founded the Dīghavāpi vihāra, in connection with which he built a cetiya, to which he made valuable offerings (Mhv.xxxiii.9, 14). We hear of Dīghavāpi in connection with the campaigns of Parakkamabāhu I. (Cv.lxxiv.89; 98, 110, 180; lxxv.1, 10). Many years later Rājasīha II. gave the district round Dīghavāpi to the settlers who came from Holland (Cv.xcvi.25, 28; for its identification see Cv.Trs.ii.30, n.1). The village of Mahā Muni, residence of Sumanā, wife of Lakuṇṭaka Atimbara, was in Dīghavāpi (Dhp­a.iv.50). Dīghavāpi was nine leagues from Tissamahārāma (AN­a.i.386).

For a story connected with the cetiya see Dhajaggaparitta.

Dīghavāpi. Một hồ chứa nước và một khu vực ở Tích Lan. Khi Đức Phật đến Tích Lan, ngài đã đến thăm ngôi làng, và tại nơi ngài ngồi thiền, một cetiya sau này đã được xây dựng (Mhv.i.78; Dpv.ii.60; Vin-a.i.89). Nơi đây dường như từng là trạm trung tâm trong xứ sở nằm giữa vương quốc Tamil và tỉnh Rohaṇa. Như vậy chúng ta thấy em trai của Duṭṭhagāmaṇī, Tissa, đã chiếm đóng nơi này theo lệnh của cha mình. Sau đó, khi cha qua đời, ông đã lui về Dīghavāpi cùng với mẹ và con voi Kaṇḍula (Mhv.xxiv.2, 14f, 48). Khi ông giảng hòa với anh trai mình, ông lại được cử đến đó để trông coi khu vực này.

Sau khi chinh phục người Tamil, Tissa lại phụ trách Dīghavāpi, vì chúng ta thấy ông được gọi đến từ đó vào thời điểm cái chết của Duṭṭhagāmaṇī (Mhv.xxxii.2). Tissa (sau này được gọi là Saddhātissa) đã thành lập Dīghavāpi vihāra, và liên quan đến nó ông đã xây dựng một cetiya, nơi ông đã thực hiện những món đồ cúng dường giá trị (Mhv.xxxiii.9, 14). Chúng ta nghe nói về Dīghavāpi liên quan đến các chiến dịch của Parakkamabāhu I. (Cv.lxxiv.89; 98, 110, 180; lxxv.1, 10). Nhiều năm sau, Rājasīha II. đã trao khu vực xung quanh Dīghavāpi cho những người định cư đến từ Hà Lan (Cv.xcvi.25, 28; về việc đồng nhất nó, xem Cv.Trs.ii.30, n.1). Ngôi làng Mahā Muni, nơi cư ngụ của Sumanā, vợ của Lakuṇṭaka Atimbara, nằm ở Dīghavāpi (Dhp­a.iv.50). Dīghavāpi cách Tissamahārāma chín do-tuần (AN­a.i.386).

Về một câu chuyện liên quan đến cetiya, xem Dhajaggaparitta.