Garuḷa draft

1. Garuḷa draft

Garuḷa, Garuḍa, Garuḷas, Garuḍas. One of the palaces occupied by Phussa Buddha in his last lay-life (Bv.xix.15). The Commentary (Bv­a.192) calls it Garuḷapakkha.

Garuḷa, Garuḍa, Garuḷas, Garuḍas. Một trong các cung điện mà Đức Phật Phussa đã ở trong kiếp làm người tại gia cuối cùng của Ngài (Bv.xix.15). Chú giải (Bv­a.192) gọi cung điện này là Garuḷapakkha.

2. Garuḷā draft

Garuḷā, Garuḷas, Garuḍā, Garuḍas. A class of mythical birds generally mentioned in company with Nāgas (e.g., Ja.iv.181, 202).

They live in Simbali-groves (e.g., Ja.i.202) and are usually huge in size, sometimes one hundred and fifty leagues from wing to wing (Ja.iii.397). The flapping of their wings can raise a storm, known as the Garuḍa-wind (Ja.v.77). This wind can plunge a whole city in darkness and cause houses to fall through its violence (Ja.iii.188).

A Garuḷa has strength great enough to carry off a whole banyan tree, tearing it up from its roots (Ja.vi.177). The Garuḷas are the eternal enemies of the Nāgas (Ja.ii.13; iii.103) and live in places, such as the Seruma Island (Ja.iii.187), where Nāgas are to be found. The greatest happiness of the Nāgas is to be free from the attacks of the Garuḷas (Ja.iv.463). A Garuḷa’s plumage is so thick that a man – e.g., Naṭakuvera (Ja.iii.91) – could hide in it, unnoticed by the bird. Sometimes Garuḷas assume human form; two Garuḷa kings are said to have played dice with kings of Benares and to have fallen in love with their queens, whom they took to the Garuḷa city – one of the queens being Sussondī (Ja 360, Ja.iii.187) and the other Kākātī (Ja 327, Ja.iii.91). In each case the queen, being found unfaithful to her Garuḷa lover, was returned to her husband. The Garuḷas know the Ālambāyana spell, which no Nāga can resist (Ja.vi.178, 184). It is said that in olden days the Garuḷas did not know how to seize Nāgas effectively; they caught them by the head, and the Nāgas who had swallowed big stones were too heavy to be lifted from the ground; consequently the Garuḷas died of exhaustion in trying to carry them. Later the Garuḷas learnt this secret through the treachery of the ascetic Karambiya, as related in the Paṇḍarajātaka (Ja 518, Ja.vi.175f).

Garuḷas are mentioned as sometimes leading virtuous lives, keeping the fast and observing the precepts. One such was the Garuḷa king mentioned in the Paṇḍarajātaka, and another, the son of Vināta, who visited the park of Dhanañjaya Koravya and gave a golden garland as present after hearing Vidhurapaṇḍita preach (Ja.vi.261f).

The Garuḷa’s body was evidently considered to be specially formed for quick flight, for the ancient prototype of the aeroplane was based on the Garuḷa (Dhp­a.iii.135). One of the five guards appointed by Sakka to protect Tāvatiṁsa from the Asuras was formed of Garuḷas (Ja.i.204).

The Bodhisatta (Ja.iii.187) and Sāriputta (Ja.iii.400) were both, on different occasions, born as Garuḷa kings. The Simbalī is the special tree of the Garuḷa-world (Vsm.i.206). The Garuḷa is often represented in art as a winged man (see Fergusson: Tree and Serpent Worship, pl.xxvi.1; xxviii.1. etc.; also Gründwedel: Buddhistische Kunst, pp.47-50).

The Garuḷas are sometimes called Supaṇṇas (Suvaṇṇas). Vv-a.9.

Garuḷā, Garuḷas, Garuḍā, Garuḍas. Một loài chim thần thoại thường được nhắc đến cùng với các Nāga (e.g., Ja.iv.181, 202).

Chúng sống trong các khu rừng Simbali (e.g., Ja.i.202) và thường có kích thước khổng lồ, đôi khi sải cánh dài tới một trăm năm mươi do-tuần (Ja.iii.397). Tiếng vỗ cánh của chúng có thể tạo ra bão tố, được gọi là gió Garuḍa (Ja.v.77). Cơn gió này có thể nhấn chìm cả một thành phố trong bóng tối và khiến nhà cửa sụp đổ vì sức mạnh dữ dội của nó (Ja.iii.188).

Một Garuḷa có sức mạnh đủ để cuốn bay cả một cây đa, bứng cả gốc rễ lên (Ja.vi.177). Các Garuḷa là kẻ thù truyền kiếp của các Nāga (Ja.ii.13; iii.103) và sống ở những nơi có Nāga, chẳng hạn như đảo Seruma (Ja.iii.187). Niềm hạnh phúc lớn nhất của các Nāga là được thoát khỏi các cuộc tấn công của Garuḷa (Ja.iv.463). Bộ lông của một Garuḷa dày đến mức một người – như Naṭakuvera (Ja.iii.91) – có thể ẩn nấp trong đó mà con chim không hề hay biết. Đôi khi các Garuḷa mang hình dạng con người; có nói rằng hai vị vua Garuḷa từng đánh xúc xắc với các vị vua xứ Benares và đem lòng yêu hoàng hậu của họ, rồi đưa các bà về thành Garuḷa – một trong hai hoàng hậu là Sussondī (Ja 360, Ja.iii.187) và người kia là Kākātī (Ja 327, Ja.iii.91). Trong cả hai trường hợp, khi hoàng hậu bị phát hiện không chung thủy với người tình Garuḷa, bà đều bị trả về cho chồng. Các Garuḷa biết chú thuật Ālambāyana, mà không một Nāga nào có thể chống lại (Ja.vi.178, 184). Có nói rằng ngày xưa các Garuḷa không biết cách bắt Nāga hiệu quả; chúng bắt Nāga bằng cách túm lấy đầu, còn những Nāga nào đã nuốt đá lớn thì quá nặng để nhấc khỏi mặt đất; do đó các Garuḷa chết vì kiệt sức khi cố mang chúng đi. Về sau, các Garuḷa học được bí quyết này nhờ sự phản bội của vị khổ hạnh Karambiya, như được kể trong Paṇḍarajātaka (Ja 518, Ja.vi.175f).

Các Garuḷa cũng được nhắc đến là đôi khi sống đời đạo đức, giữ trai giới và tuân giữ giới luật. Một ví dụ là vị vua Garuḷa được nhắc đến trong Paṇḍarajātaka, và một ví dụ khác là con trai của Vināta, người đã đến thăm khu vườn của Dhanañjaya Koravya và tặng một vòng hoa bằng vàng sau khi nghe Vidhurapaṇḍita thuyết giảng (Ja.vi.261f).

Thân hình của Garuḷa rõ ràng được xem là có cấu tạo đặc biệt để bay nhanh, vì nguyên mẫu cổ xưa của máy bay được dựa trên hình tượng Garuḷa (Dhp­a.iii.135). Một trong năm đội canh gác do Sakka bổ nhiệm để bảo vệ Tāvatiṁsa khỏi các Asura được lập nên từ các Garuḷa (Ja.i.204).

Bodhisatta (Ja.iii.187) và Sāriputta (Ja.iii.400), vào những dịp khác nhau, đều từng sinh làm vua Garuḷa. Simbalī là loài cây đặc trưng của cõi Garuḷa (Vsm.i.206). Garuḷa thường được thể hiện trong nghệ thuật dưới hình dạng một người có cánh (xem Fergusson: Tree and Serpent Worship, pl.xxvi.1; xxviii.1. etc.; cũng xem Gründwedel: Buddhistische Kunst, pp.47-50).

Các Garuḷa đôi khi cũng được gọi là Supaṇṇa (Suvaṇṇa). Vv-a.9.