Sineru draft

Sineru. A mountain, forming the center of the world. It is submerged in the sea to a depth of eighty-four thousand yojanas and rises above the surface to the same height. It is surrounded by seven mountain ranges – Yugandhara, Īsadhara, Karavīka, Sudassana, Nemindhara, Vinataka and Assakaṇṇa (Snp­a.ii.443; Vin-a.i.119; Vsm.206; cp. Mvu.ii.300; Divy.217; it is eighty thousand leagues broad, AN.iv.100).

On the top of Sineru is Tāvatiṁsa (Snp­a.ii.485f), while at its foot is the Asurabhavana of ten thousand leagues; in the middle are the four Mahā Dīpā with their two thousand smaller dīpā (the Asurabhavana was not originally there, but sprang up by the power of the Asuras when they were thrown down from Tāvatiṁsa, Dhp­a.i.272; see, e.g., Snp­a.i.201).

Sineru is often used in similes, its chief characteristic being its un-shakeability (suṭṭhuṭhapita) (e.g., Snp. vs.683). It is also called Meru or Sumeru (e.g., Cv.xlii.2), Hemameru (e.g., Cv.xxxii.79) and Mahā Neru (MN.i.338; also Neru, Ja.iii.247).

Each Cakkavāḷa has its own Sineru (AN.i.227; v.59), and a time comes when even Sineru is destroyed (SN.iii.149).

When the Buddha went to Tāvatiṁsa, he covered the distance there from the earth in three strides he set his right foot down on the top of Yugandhara and his left on Sineru, the next step brought him to Tāvatiṁsa, the whole distance so covered being sixty-eight hundred thousand leagues. Dhp­a.iii.216.

Sineru. Một ngọn núi, tạo thành trung tâm của thế giới. Nó chìm sâu dưới biển tám mươi bốn nghìn yojana và nhô lên trên mặt biển cũng cùng một độ cao như vậy. Nó được bao quanh bởi bảy dãy núi – Yugandhara, Īsadhara, Karavīka, Sudassana, Nemindhara, VinatakaAssakaṇṇa (Snp­a.ii.443; Vin-a.i.119; Vsm.206; cp. Mvu.ii.300; Divy.217; nó rộng tám mươi nghìn do-tuần, AN.iv.100).

Trên đỉnh Sineru là Tāvatiṁsa (Snp­a.ii.485f), trong khi ở chân núi là Asurabhavana rộng mười nghìn do-tuần; ở giữa là bốn Mahā Dīpā cùng hai nghìn dīpā nhỏ hơn của chúng (Asurabhavana ban đầu không có ở đó, mà xuất hiện do năng lực của các Asura khi họ bị ném xuống từ Tāvatiṁsa, Dhp­a.i.272; xem, ví dụ, Snp­a.i.201).

Sineru thường được dùng trong các ví dụ so sánh, đặc điểm chính của nó là sự bất động (suṭṭhuṭhapita) (ví dụ, Snp. vs.683). Nó cũng được gọi là Meru hay Sumeru (ví dụ, Cv.xlii.2), Hemameru (ví dụ, Cv.xxxii.79) và Mahā Neru (MN.i.338; cũng là Neru, Ja.iii.247).

Mỗi Cakkavāḷa có Sineru riêng của nó (AN.i.227; v.59), và sẽ đến lúc ngay cả Sineru cũng bị hủy diệt (SN.iii.149).

Khi Đức Phật đi đến Tāvatiṁsa, Ngài đã vượt qua khoảng cách đó từ mặt đất chỉ trong ba bước — Ngài đặt chân phải xuống đỉnh Yugandhara và chân trái xuống Sineru, bước tiếp theo đưa Ngài đến Tāvatiṁsa, toàn bộ khoảng cách được vượt qua như vậy là sáu triệu tám trăm nghìn do-tuần. Dhp­a.iii.216.