Uggasena draft
01. Uggasena 01 draft
Uggasena 01. King of Benares. The Nāga king, Campeyya, was brought before him by a Brahmin snake-charmer for a performance, but when the king learnt from the Nāga’s sister, Sumanā, what had happened, he caused the Nāga to be set free. Later, Campeyya took him to the Nāga-world and shewed him every honour. Uggasena’s subjects were allowed to bring back from the Nāga-world whatever they desired (Ja.v.458ff; Mhv.ii.177ff).
The story is told in the Campeyyajātaka (q.v.). In the present age Uggasena became Sāriputta. Ja.v.468.
Vua của Benares. Vị vua Nāga, Campeyya, đã được mang đến trước ông bởi một người dụ rắn Bà-la-môn để biểu diễn, nhưng khi nhà vua biết được từ người em gái của vị Nāga, Sumanā, những gì đã xảy ra, ông đã ra lệnh để cho vị Nāga được trả tự do. Sau đó, Campeyya đã đưa ông đến thế giới Nāga và bày tỏ với ông mọi sự tôn kính. Các thần dân của Uggasena được cho phép mang về từ thế giới Nāga bất cứ thứ gì họ mong muốn (Ja.v.458ff; Mhv.ii.177ff).
Câu chuyện được kể trong Campeyyajātaka (q.v.). Trong thời đại hiện tại Uggasena đã trở thành Sāriputta. Ja.v.468.
02. Uggasena 02 draft
Uggasena 02. Son of a banker of Rājagaha. He fell in love with a very skilful acrobat, married her and followed her about with her troupe. When he discovered that she despised him for his lack of skill as an acrobat, he learnt the art and became a clever tumbler. The Buddha knew that Uggasena was ready for conversion and entering Rājagaha while Uggasena was displaying his skill before a large crowd of people, withdrew their attention from his skilful feats. Seeing Uggasena’s disappointment, the Buddha sent Moggallāna to ask him to continue his performance, and while Uggasena was displaying his skill by various tricks, the Buddha preached to him, and Uggasena became an Arahant, even as he stood poised on the tip of a pole, and later became a monk. His wife also left the world soon after and attained Arahant-ship.
In the time of Kassapa Buddha they were husband and wife. On their way to the shrine of the Buddha where they worked as labourers, they saw an Elder and gave him part of the food they had with them and expressed the desire that they should, one day, like him, realise the Truth. The Elder, looking into the future, saw that their wish would be fulfilled and smiled. The wife, seeing him smile, said to her husband that the Elder must be an actor, and the husband agreed. Because of this remark they became actors in this life, but through their pious gift they attained Arahant-ship. Dhpa.iv.59-65; also ibid., 159.
Uggasena 02. Con trai của một trưởng giả ở Rājagaha. Chàng đem lòng yêu một nữ nhào lộn rất tài năng, kết hôn với nàng và đi theo nàng cùng gánh xiếc của nàng. Khi phát hiện ra nàng khinh thường mình vì không có kỹ năng nhào lộn, chàng đã học nghệ thuật này và trở thành một diễn viên nhào lộn khéo léo. Đức Phật biết rằng Uggasena đã sẵn sàng để chuyển hóa và đi vào Rājagaha trong khi Uggasena đang phô diễn kỹ năng của mình trước một đám đông lớn, rút sự chú ý của họ khỏi những màn trình diễn khéo léo của chàng. Thấy sự thất vọng của Uggasena, Đức Phật sai Moggallāna đến yêu cầu chàng tiếp tục màn biểu diễn, và trong khi Uggasena đang phô diễn kỹ năng của mình bằng nhiều trò khác nhau, Đức Phật thuyết pháp cho chàng, và Uggasena trở thành một Arahant, ngay cả khi chàng đang đứng thăng bằng trên đỉnh một cây sào, và sau đó trở thành một tỳ-kheo. Vợ của chàng cũng xuất gia không lâu sau đó và đạt được quả vị Arahant.
Vào thời của Kassapa Buddha, họ là vợ chồng. Trên đường đến điện thờ của Đức Phật nơi họ làm công nhân, họ thấy một vị Trưởng lão và nhường cho ngài một phần thức ăn mà họ mang theo và bày tỏ mong ước rằng một ngày nào đó, giống như ngài, họ sẽ chứng ngộ Chân lý. Vị Trưởng lão, nhìn vào tương lai, thấy rằng mong ước của họ sẽ thành tựu và mỉm cười. Người vợ, thấy ngài mỉm cười, nói với chồng rằng vị Trưởng lão ắt hẳn là một diễn viên, và người chồng đồng ý. Vì lời nhận xét này, họ trở thành diễn viên trong kiếp này, nhưng nhờ sự cúng dường thành kính của họ, họ đã đạt được quả vị Arahant. Dhpa.iv.59-65; cũng xem ibid., 159.