Jotipāla draft
01. Jotipāla 01 draft
Jotipāla 01. The Bodhisatta born as the son of the chaplain of Brahmadatta, king of Benares. He was a great archer and became an ascetic. He is also referred to as Sarabhaṅga (Ja.v.127ff).
For his story see the Sarabhaṅgajātaka (Ja 522). He is evidently identical with Jotipāla of the Indriyajātaka (Ja 423). He belonged to the Koṇḍaññagotta. Ja.v.140, 141, 142.
Jotipāla 01. Bodhisatta sinh ra là con trai của vị tế sư của Brahmadatta, vua xứ Benares. Ông là một cung thủ cừ khôi và đã trở thành một vị khổ hạnh. Ông cũng được gọi là Sarabhaṅga (Ja.v.127ff).
Về câu chuyện của ông, xem Sarabhaṅgajātaka (Ja 522). Rõ ràng ông đồng nhất với Jotipāla trong Indriyajātaka (Ja 423). Ông thuộc về Koṇḍaññagotta. Ja.v.140, 141, 142.
02. Jotipāla 02 draft
Jotipāla 02. The Bodhisatta born as a Brahmin of Vehaliṅga in the time of Kassapa Buddha. Ghaṭīkāra was his friend and invited Jotipāla to accompany him to the Buddha, but Jotipāla refused to go, saying that a “shaveling recluse” could be of no use to him. But Ghaṭīkāra was very insistent, and one day, after they had bathed together in the river, seized Jotipāla by the hair and made a final appeal. This boldness on the part of an inferior (Ghaṭīkāra was a potter) caused Jotipāla to realise his extreme earnestness and he agreed to go. After hearing the Buddha teach, Jotipāla became a monk (MN.ii.46ff; Ja.i.43; Bv.xxv.10; see also SN.i.34f; Mil.221; Mvu.i.319ff).
This insulting remark made by Jotipāla regarding Kassapa Buddha led to Gotama, in his last life, having to practise austerities for a longer period than did the other Buddhas (Ap.i.301; Uda.265; Apa.i.95). The memory of what he did as Jotipāla was one of the things that made the Buddha smile. Dhsa.294, 496.
Jotipāla 02. Bodhisatta sinh ra là một vị Bà-la-môn của Vehaliṅga vào thời của Kassapa Buddha. Ghaṭīkāra là bạn của ông và đã mời Jotipāla đi cùng ông ấy đến diện kiến Đức Phật, nhưng Jotipāla từ chối đi, nói rằng một "gã sa-môn trọc đầu" chẳng thể có ích gì cho ông cả. Nhưng Ghaṭīkāra rất kiên quyết, và một ngày nọ, sau khi họ đã tắm cùng nhau trên sông, đã nắm lấy tóc của Jotipāla và đưa ra lời cầu xin cuối cùng. Sự táo bạo này từ phía một người thuộc tầng lớp thấp hơn (Ghaṭīkāra là một người thợ gốm) đã khiến Jotipāla nhận ra sự chân thành tột độ của ông ấy và ông đồng ý đi. Sau khi nghe Đức Phật thuyết giảng, Jotipāla đã trở thành một tỳ-kheo (MN.ii.46ff; Ja.i.43; Bv.xxv.10; cũng xem SN.i.34f; Mil.221; Mvu.i.319ff).
Lời nhận xét xúc phạm này do Jotipāla đưa ra liên quan đến Kassapa Buddha đã dẫn đến việc Gotama, trong kiếp sống cuối cùng của mình, phải thực hành khổ hạnh trong một khoảng thời gian dài hơn so với các vị Phật khác (Ap.i.301; Uda.265; Apa.i.95). Ký ức về những gì Ngài đã làm với tư cách là Jotipāla là một trong những điều đã khiến Đức Phật mỉm cười. Dhsa.294, 496.
03. Jotipāla 03 draft
Jotipāla 03. A Brahmin, son of Govinda, chaplain of Disampati. Jotipāla was a friend of Disampati’s son, Reṇu, who had six other nobles as companions. On the death of Govinda, Jotipāla became chaplain to Disampati. He inspired Reṇu’s six companions to wait on Reṇu and make him promise to share the kingdom with them when he should come to the throne. This promise Reṇu kept when he succeeded his father and appointed Jotipāla to carry out the division of the kingdom, which the latter duly did. All the kings wished Jotipāla to be their chaplain, and he instructed them in the art of government, teaching the mantras also to seven eminent Brahmins and to seven hundred young graduates. Jotipāla himself came to be known as Mahā Govinda.
After some time, Jotipāla took leave of the seven kings, his disciples and his wives, and spent the four months of the rainy season in a retired spot outside the city, developing jhāna in order to see Brahma face to face. At the end of the four months, Brahma Sanaṅkumāra appeared before him and gave him a boon. Jotipāla asked to be taught the way to reach the Brahma-world, and, having listened to Sanaṅkumāra’s exposition, decided to leave the world. The kings and all the others did their best to make him desist from this course, but finding their efforts of no avail they went with him into the homeless life, where all of them profited thereby.
Jotipāla was the Bodhisatta (DN.ii.232-51; Mvu.i.197ff). He is twice mentioned in the Aṅguttaranikāya (AN.iii.372; iv.135; ANa.ii.679) in a list of ancient teachers with very large followings.
Jotipāla 03. Một vị Bà-la-môn, con trai của Govinda, tế sư của Disampati. Jotipāla là một người bạn của con trai của Disampati, Reṇu, người có sáu vị quý tộc khác làm bạn đồng hành. Khi Govinda qua đời, Jotipāla đã trở thành tế sư cho Disampati. Ông đã truyền cảm hứng cho sáu người bạn đồng hành của Reṇu đến hầu hạ Reṇu và yêu cầu anh ta hứa sẽ chia sẻ vương quốc với họ khi anh ta lên ngôi. Lời hứa này Reṇu đã giữ khi anh kế vị cha mình và bổ nhiệm Jotipāla thực hiện việc phân chia vương quốc, điều mà người sau này đã làm một cách hợp thức. Tất cả các vị vua đều muốn Jotipāla trở thành tế sư của họ, và ông đã hướng dẫn họ nghệ thuật quản trị, đồng thời cũng dạy các chú ngữ (mantra) cho bảy vị Bà-la-môn lỗi lạc và bảy trăm nam thanh niên đã tốt nghiệp. Bản thân Jotipāla đã được biết đến với tên gọi Mahā Govinda.
Sau một thời gian, Jotipāla cáo từ bảy vị vua, các đệ tử và những người vợ của mình, và dành bốn tháng của mùa an cư tại một nơi hẻo lánh bên ngoài thành phố, tu tập jhāna nhằm được nhìn thấy Brahma mặt đối mặt. Vào cuối kỳ bốn tháng, Brahma Sanaṅkumāra đã xuất hiện trước mặt ông và ban cho ông một ân huệ. Jotipāla thỉnh cầu được dạy cách để đạt đến cõi Brahma, và, sau khi lắng nghe lời giảng giải của Sanaṅkumāra, đã quyết định xuất gia. Các vị vua và tất cả những người khác đã cố gắng hết sức để khiến ông từ bỏ hướng đi này, nhưng khi thấy những nỗ lực của họ là vô ích, họ đã cùng ông đi vào cuộc sống không nhà, nơi tất cả bọn họ đều được hưởng lợi ích từ đó.
Jotipāla chính là Bodhisatta (DN.ii.232-51; Mvu.i.197ff). Ông được nhắc đến hai lần trong Aṅguttaranikāya (AN.iii.372; iv.135; ANa.ii.679) trong một danh sách các bậc thầy thời cổ đại có những lượng tín đồ theo sau rất lớn.
04. Jotipāla 04 draft
Jotipāla 04. A monk at whose request Buddhaghosa wrote the Sāraṭṭhappakāsinī and the Manoraṭṭhapūraṇī. He seems to have been a colleague of Buddhaghosa and lived with him in several places, including Kañcīpura. Gv.68; SNa.iii.235; ANa.ii.874.
Jotipāla 04. Một tỳ-kheo mà theo yêu cầu của ông Buddhaghosa đã viết Sāraṭṭhappakāsinī và Manoraṭṭhapūraṇī. Ông dường như từng là một đồng đạo của Buddhaghosa và đã sống cùng ông ấy ở một vài nơi, bao gồm cả Kañcīpura. Gv.68; SNa.iii.235; ANa.ii.874.
05. Jotipāla 05 draft
Jotipāla 05. A Thera of Ceylon. He defeated in debate the adherents of the Vetulla school, and one of their angry followers, Dāṭhāpabhuti, raised his hand to strike the Thera. An ulcer immediately appeared on Dāṭhāpabhuti’s hand. Aggabodhi I. gave the Elder a dwelling in the vihāra (Abhayagiri?) – where the discussion took place – and charged his nephew with his care. The king also built for the Elder the Nīlagehapariccheda. Later the Kāliṅga king came with his family to Ceylon and was ordained under Jotipāla. Aggabodhi II. repaired the Thūpārāma at Jotipāla’s suggestion and deposited therein a relic of the Buddha from the Lohapāsāda (Cv.xlii.35, 45, 51, 60).
Jotipāla 05. Một vị Trưởng lão của Tích Lan. Ông đã đánh bại các tín đồ của trường phái Vetulla trong một cuộc tranh luận, và một trong những người môn đồ tức giận của họ, Dāṭhāpabhuti, đã giơ tay lên để đánh vị Trưởng lão. Một vết loét ngay lập tức xuất hiện trên tay của Dāṭhāpabhuti. Aggabodhi I. đã ban cho vị Trưởng lão một chỗ ở trong vihāra (Abhayagiri?) – nơi cuộc thảo luận đã diễn ra – và giao cho cháu trai của mình chăm sóc cho ông. Nhà vua cũng đã xây dựng cho vị Trưởng lão Nīlagehapariccheda. Về sau, vua nước Kāliṅga đã cùng gia đình đến Tích Lan và được xuất gia dưới sự chỉ dẫn của Jotipāla. Aggabodhi II. đã tu sửa Thūpārāma theo gợi ý của Jotipāla và an vị trong đó một viên xá-lợi của Đức Phật từ Lohapāsāda (Cv.xlii.35, 45, 51, 60).