Sanaṅkumāra draft

Sanaṅkumāra. A Mahā Brahma. In the Nikāyas he is mentioned as the author of a famous verse, there quoted: Khattiyo seṭṭho jane tasmiṁ ye gottapaṭisārino, vijjācaraṇasampanno so seṭṭho devamānuse, among people who trust in lineage, the khattiya is considered supreme, but one accomplished in knowledge and conduct is truly supreme among gods and humans (DN.i.121; MN.i.358; SN.i.153; AN.v.327).

In one place (SN.ii.284) the verse is attributed to the Buddha, thus endowing it with the authoritativeness of a pronouncement by the Buddha himself. Sanaṅkumāra is represented as a very devout follower of the Buddha.

In a Sutta of the Saṁyutta (SN.i.153), he is spoken of as visiting the Buddha on the banks of the Sappinī, and it was during this visit that the above verse was spoken. Sanaṅkumāra was present at the preaching of the Mahā Samayasutta (DN.ii.261).

In the Janavasabhasutta, Janavasabha describes to the Buddha an occasion on which Sanaṅkumāra attended an assembly of the Devas, presided over by Sakka and the Four Regent Gods. There was suddenly a vast radiance, and the Devas knew of the approach of Sanaṅkumāra. As the usual appearance of the Brahma is not sufficiently materialized for him to be perceived by the Devas of Tāvatiṁsa, he is forced to appear as a relatively gross personality which he specially creates. As he arrives, the Devas sit in their places with clasped hands waiting for him to choose his seat. Then Sanaṅkumāra takes on the form of Pañcasikha (because all Devas like Pañcasikha, says the Commentary, DN­a.ii.640) and sits, above the assembly, cross-legged, in the air. So seated, he expresses his satisfaction that Sakka and all the Tāvatiṁsa Devas should honour and follow the Buddha. His voice has all the eight characteristics of a Brahma’s voice (these are given at DN.ii.211). He then proceeds to create thirty-three shapes of himself, each sitting on the divan of a Tāvatiṁsa Deva, and addresses the Devas, speaking of the advantages of taking refuge in the Buddha, the Dhamma and the Saṅgha. Each Deva fancies that only the shape sitting on his own divan has spoken and that the others are silent. Then Sanaṅkumāra goes to the end of the Hall, and, seated on Sakka’s throne, addresses the whole assembly on the four ways of iddhi; on the three avenues leading to Bliss, as manifested by the Buddha; on the four satipaṭṭhānas, and the seven samādhiparikkhārā. He declares that more than twenty-four lakhs of Magadha disciples, having followed the teachings of the Buddha, have been born in the Deva worlds. When Sanaṅkumāra has finished his address, Vessavaṇa wonders if there have been Buddhas in the past and will be in the future. The Brahma reads his thoughts and says there certainly were and will be.

Sanaṅkumāra means “ever young.” Buddhaghosa says that, in his former birth, he practised jhānas while yet a boy with his hair tied in five knots (pañcacūḷakakumārakāle), and was reborn in the Brahma world with the jhāna intact (MN­a.ii.584; cf. SN­a.i.171). He liked the guise of youth and continued in the same, hence the name. Rhys Davids sees in the legend of Sanaṅkumāra the Indian counterpart of the European legend of Galahad (Dial.ii.292, n.3; cf.i.121, n.1). The oldest mention of it is in the Chāṇḍogya Upaniṣad (Chap. VII), where the ideal, yet saintly knight, teaches a typical Brahmin the highest truths. In the Mahā Bhārata (iii.185, Bombay Edition) he expresses a sentiment very similar to that expressed in the stanza quoted above. In mediaeval literature he is said to have been one of five or seven mind-born sons of Brahma who remained pure and innocent. A later and debased Jaina version of the legend tells in detail of the love adventures and wives of this knight, with a few words at the end on his conversion to the saintly life. See JRAS.1894, p. 344; 1897, p.585 f; Revue de Histoire des Religions, vol.xxxi.pp.29ff.

Sanaṅkumāra. Một vị Mahā Brahma. Trong các Nikāya, vị này được nhắc đến là tác giả của một bài kệ nổi tiếng, được trích dẫn ở đó: Khattiyo seṭṭho jane tasmiṁ ye gottapaṭisārino, vijjācaraṇasampanno so seṭṭho devamānuse, trong số những người tin cậy vào dòng dõi, giai cấp khattiya được xem là tối thượng, nhưng người thành tựu về trí và hạnh mới thực sự là tối thượng giữa chư thiên và loài người (DN.i.121; MN.i.358; SN.i.153; AN.v.327).

Ở một chỗ khác (SN.ii.284) bài kệ này được gán cho chính Đức Phật, do đó mang lại cho nó tính thẩm quyền của một lời tuyên bố do chính Đức Phật nói ra. Sanaṅkumāra được mô tả là một người đệ tử rất mộ đạo của Đức Phật.

Trong một Sutta của Saṁyutta (SN.i.153), vị này được nói đến là đã đến thăm Đức Phật trên bờ sông Sappinī, và chính trong lần viếng thăm này mà bài kệ trên đã được nói ra. Sanaṅkumāra đã có mặt tại buổi thuyết giảng Mahā Samayasutta (DN.ii.261).

Trong Janavasabhasutta, Janavasabha kể lại cho Đức Phật về một dịp mà Sanaṅkumāra đã tham dự một cuộc hội họp của chư thiên, do Sakka và Tứ Đại Thiên Vương chủ trì. Bỗng nhiên có một ánh sáng rực rỡ bao la, và chư thiên biết rằng Sanaṅkumāra đang đến gần. Vì hình dạng thông thường của một vị Brahma không đủ đậm đặc để chư thiên cõi Tāvatiṁsa có thể nhận thấy được, nên vị ấy buộc phải hiện ra dưới một thân tướng thô hơn mà vị ấy đặc biệt tạo ra. Khi vị ấy đến, chư thiên ngồi tại chỗ của mình, chắp tay chờ đợi vị ấy chọn chỗ ngồi. Sau đó Sanaṅkumāra hiện ra dưới hình dạng Pañcasikha (vì tất cả chư thiên đều yêu thích Pañcasikha, theo lời Chú giải, DN­a.ii.640) và ngồi, phía trên hội chúng, xếp bằng, giữa hư không. Ngồi như vậy, vị ấy bày tỏ niềm hoan hỷ rằng Sakka và tất cả chư thiên cõi Tāvatiṁsa nên tôn kính và đi theo Đức Phật. Giọng nói của vị ấy có đủ tám đặc tính của giọng nói một vị Brahma (những đặc tính này được nêu tại DN.ii.211). Sau đó vị ấy tiếp tục tạo ra ba mươi ba hình dạng của chính mình, mỗi hình ngồi trên trường kỷ của một vị thiên cõi Tāvatiṁsa, và nói với chư thiên, bàn về những lợi ích của việc quy y Đức Phật, DhammaSaṅgha. Mỗi vị thiên tưởng rằng chỉ có hình dạng ngồi trên trường kỷ của riêng mình mới lên tiếng, còn những hình khác thì im lặng. Sau đó Sanaṅkumāra đi đến cuối Sảnh đường, và, ngồi trên ngai của Sakka, nói với toàn thể hội chúng về bốn con đường của iddhi; về ba con đường dẫn đến An Lạc, như đã được Đức Phật chỉ bày; về bốn satipaṭṭhāna, và bảy samādhiparikkhārā. Vị ấy tuyên bố rằng hơn hai mươi bốn lakh đệ tử ở Magadha, nhờ làm theo giáo pháp của Đức Phật, đã được sinh vào các cõi chư thiên. Khi Sanaṅkumāra kết thúc bài nói của mình, Vessavaṇa tự hỏi liệu có từng có chư Phật trong quá khứ và sẽ có trong tương lai hay không. Vị Brahma đọc được ý nghĩ của ông và nói rằng chắc chắn đã có và sẽ có.

Sanaṅkumāra có nghĩa là “mãi mãi trẻ trung.” Buddhaghosa nói rằng, trong kiếp trước, vị ấy đã hành jhāna khi còn là một cậu bé với mái tóc buộc thành năm búi (pañcacūḷakakumārakāle), và đã tái sinh vào cõi Brahma với jhāna vẫn còn nguyên vẹn (MN­a.ii.584; cf. SN­a.i.171). Vị ấy thích hình dáng tuổi trẻ và tiếp tục giữ nguyên như vậy, do đó có tên gọi này. Rhys Davids nhìn thấy trong truyền thuyết về Sanaṅkumāra hình ảnh tương ứng của Ấn Độ với truyền thuyết châu Âu về Galahad (Dial.ii.292, n.3; cf.i.121, n.1). Sự đề cập cổ xưa nhất về truyền thuyết này là trong Chāṇḍogya Upaniṣad (Chương VII), nơi vị hiệp sĩ lý tưởng nhưng thánh thiện dạy cho một người Bà-la-môn tiêu biểu những chân lý cao nhất. Trong Mahā Bhārata (iii.185, Bombay Edition) vị ấy bày tỏ một cảm xúc rất giống với cảm xúc được thể hiện trong bài kệ đã trích dẫn ở trên. Trong văn học thời trung cổ, vị ấy được cho là một trong năm hoặc bảy người con sinh ra từ tâm của Brahma, những người vẫn giữ được sự trong sạch và ngây thơ. Một phiên bản Kỳ-na giáo muộn hơn và đã bị biến đổi của truyền thuyết này kể chi tiết về những cuộc phiêu lưu tình ái và các người vợ của vị hiệp sĩ này, với vài lời ở cuối về sự cải đạo của vị ấy sang đời sống thánh thiện. Xem JRAS.1894, p. 344; 1897, p.585 f; Revue de Histoire des Religions, vol.xxxi.pp.29ff.