Pañcasikha draft
Pañcasikha. A Gandhabba. His favourite instrument was the Beluvapaṇḍuvīnā (q.v.). He was considered a favourite of the Buddha (DNa.iii.699), and when Sakka visited the Buddha at the Indasālaguhā in order to ask him certain questions, he sent Pañcasikha in advance, that he might obtain permission for the interview. The episode in given in full in the Sakkapañhasutta (DN.ii.263ff.).
Pañcasikha approached the Buddha and playing on his vinā, sang of the beauties of the Buddha, the Dhamma, Arahants and Love. The verses really formed a love poem addressed to his beloved, Bhaddā Suriyavaccasā, daughter of the Gandhabba Timbarū. The Buddha praised his music and song and questioned him about the poem. He confessed that when the Buddha was staying under the Ajapālanirgodha, before the Awakening, he (Pañcasikha) had met Suriyavaccasā going with her father to dance before Sakka. Pañcasikha thereupon fell in love with her; but she favoured the suit of Sikhaṇḍi, son of Mātali. Pañcasikha thereupon composed a song, which he sang to her. She was greatly pleased with the references in the song to the Sākyan sage of whom she had heard when she went to the Sudhammāsabhā (on this occasion Sakka, pronounced his 8-fold eulogy of the Buddha, contained in the Mahā Govindasutta, says Buddhaghosa, DNa.ii.704), and she consented to marry Pañcasikha. It is said that Sakka blessed the marriage in return for Pañcasikha’s intercession with the Buddha on his behalf.
In the Janavasabhasutta (DN.ii.211; also in the Mahā Govindasutta, DN.ii.230) it is stated that when Brahma Sanaṅkumāra appeared before the assembly of the gods of Tāvatiṁsa and materialized himself he assumed the form of Pañcasikha. Buddhaghosa says (DNa.ii.640), by way of explanation, that all the Devas loved Pañcasikha and wished to resemble him. In the Mahā Govindasutta Pañcasikha is represented as conveying to the Buddha a full report of the happenings in the assembly of the Devas, when Sakka spoke the Buddha’s praises (DN.i.220; cp. Mvu.iii.197ff).
No really satisfactory explanation is found in the Commentaries of Pañcasikha’s name. Buddhaghosa says (DNa.ii.647) Pañcasikho ti pañcacūḷo, pañcakuṇḍaliko, and goes on to say that Pañcasikha was born once as a human being, and, while yet a boy wearing his hair in five knots (pañcacūḷakadārakakāle), he became chief of those who tended the calves.
This is done even now in Ceylon, where young boys’ hair is tied round their heads in several knots. But in one place Buddhaghosa says that one way of insulting a man was to shave his head, leaving him five locks of hair (garahāyā ti pañcasikhā muṇḍakaraṇaṁ) (DNa.i.296). And, again, he mentions that Sanaṅkumāra retained his eternal youth because in a previous life he had developed jhāna while yet a lad (pañcasikhakumārakāle) (SNa.i.171). See also Ja.vi.496, where a traitor had his hair tied in five knots as a sign of disgrace.
Together with other lads he engaged in works of public utility, such as repairing roads, digging wells, building rest houses, etc., and he died while young. He was reborn in the Cātummahārājika world, destined to live for ninety thousand years, his body three gāvutas in height. He wore on his person one hundred cartloads of ornaments and rubbed nine pots of perfume on his body. He wore red robes, and on his head a chaplet of red gold, round which his hair was arranged in five locks (kuntalikehi), which fell back as in the case of a young boy (pañcacūḷikadārakaparihāren’eva).
It was Pañcasikha who first received from the king of the Cātummahārājika worlds and their ministers reports of good deeds done by human beings. These he would pass on to Mātali, who, in his turn, presented them to Sakka (DNa.ii.650). On the day of the Devorohaṇa, when the Buddha descended from Tāvatiṁsa, Pañcasikha was present to render honour to the Teacher in song and music (Dhpa.iii.225; ANa.i.72; Vsm.392). According to the legends he was present with the Buddha on other occasions as well (e.g., Mhv.xxx.75; xxxi.82).
Pañcasikha was evidently not only the name of a person, but also of an office (like Sakka), for in the Biḷārikosiyajātaka (Ja 450, q.v.) Ānanda is said to have been born as Pañcasikha and to have helped Sakka and others to make of Bīlārakosiya a generous man (Ja.iv.69). Similarly, in the Sudhābhojanajātaka (Ja 535, q.v.), Anuruddha is identified with Pañcasikha. Ja.v.412.
Pañcasikha. Một vị Gandhabba. Nhạc cụ yêu thích của vị ấy là Beluvapaṇḍuvīnā (q.v.). Vị ấy được coi là một người được Đức Phật yêu mến (DNa.iii.699), và khi Sakka đến thăm Đức Phật tại Indasālaguhā để hỏi Ngài một số câu hỏi, Pañcasikha đã được phái đi trước để xin phép cho cuộc phỏng vấn. Tình tiết này được kể chi tiết trong kinh Sakkapañhasutta (DN.ii.263ff.).
Pañcasikha tiến đến gần Đức Phật và vừa chơi cây đàn vinā của mình, vừa hát về vẻ đẹp của Đức Phật, Pháp (Dhamma), các bậc Arahant và Tình Yêu. Các câu kệ thực sự tạo thành một bài thơ tình gửi cho người mình yêu, nàng Bhaddā Suriyavaccasā, con gái của Gandhabba Timbarū. Đức Phật khen ngợi âm nhạc và bài hát của vị ấy và hỏi vị ấy về bài thơ. Vị ấy thú nhận rằng khi Đức Phật đang ngự dưới cây Ajapālanirgodha, trước khi Giác ngộ, ông (Pañcasikha) đã gặp nàng Suriyavaccasā đang cùng cha đi múa trước mặt Sakka. Pañcasikha liền phải lòng nàng; nhưng nàng lại thiên vị lời cầu hôn của Sikhaṇḍi, con trai của Mātali. Pañcasikha sau đó đã sáng tác một bài hát và hát cho nàng nghe. Nàng rất hài lòng với những chi tiết đề cập trong bài hát về vị ẩn sĩ Sākyan mà nàng đã từng nghe nói đến khi đến Sudhammāsabhā (trong dịp này, Sakka, đã đọc lời ca ngợi Đức Phật gồm 8 phần của mình, điều có trong kinh Mahā Govindasutta, theo lời Buddhaghosa, DNa.ii.704), và nàng đã đồng ý kết hôn với Pañcasikha. Người ta nói rằng Sakka đã ban phước cho cuộc hôn nhân này để đền đáp việc Pañcasikha đã thay mặt mình can thiệp với Đức Phật.
Trong kinh Janavasabhasutta (DN.ii.211; cũng có trong kinh Mahā Govindasutta, DN.ii.230), có nói rằng khi Phạm thiên Sanaṅkumāra xuất hiện trước hội chúng chư thiên cõi Tāvatiṁsa và thị hiện hình tướng, vị ấy đã mang hình dáng của Pañcasikha. Buddhaghosa nói (DNa.ii.640), như một cách giải thích, rằng tất cả chư thiên đều yêu mến Pañcasikha và muốn được giống như vị ấy. Trong kinh Mahā Govindasutta, Pañcasikha được miêu tả như là người truyền đạt đến Đức Phật một báo cáo đầy đủ về những sự việc xảy ra trong hội chúng chư thiên, khi Sakka nói những lời ca ngợi Đức Phật (DN.i.220; so sánh Mvu.iii.197ff).
Không có lời giải thích nào thực sự thỏa đáng được tìm thấy trong các Chú giải về tên gọi của Pañcasikha. Buddhaghosa nói (DNa.ii.647) Pañcasikho ti pañcacūḷo, pañcakuṇḍaliko, và tiếp tục nói rằng Pañcasikha từng sinh ra làm người, và trong khi vẫn còn là một cậu bé với mái tóc buộc thành năm chỏm (pañcacūḷakadārakakāle), ông đã trở thành thủ lĩnh của những người chăn bê.
Điều này thậm chí vẫn được thực hiện cho đến nay ở Tích Lan, nơi tóc của các cậu bé được buộc quanh đầu thành nhiều chỏm. Nhưng ở một chỗ, Buddhaghosa nói rằng một cách để lăng mạ một người là cạo đầu người đó, chừa lại cho anh ta năm lọn tóc (garahāyā ti pañcasikhā muṇḍakaraṇaṁ) (DNa.i.296). Và một lần nữa, ngài đề cập rằng Sanaṅkumāra vẫn giữ được tuổi trẻ vĩnh cửu vì trong một kiếp quá khứ, ông đã phát triển jhāna khi vẫn còn là một cậu bé (pañcasikhakumārakāle) (SNa.i.171). Xem thêm Ja.vi.496, nơi một kẻ phản quốc bị buộc tóc thành năm chỏm như một dấu hiệu của sự ô nhục.
Cùng với các cậu bé khác, ông đã tham gia vào các công trình tiện ích công cộng, như sửa đường, đào giếng, xây nhà nghỉ, v.v., và ông đã qua đời khi còn trẻ. Ông tái sinh vào cõi Cātummahārājika, với định mệnh sống thọ chín mươi nghìn năm, cơ thể của ông cao ba gāvuta. Ông đeo trên người một trăm xe bò đồ trang sức và xoa chín hũ hương thơm lên cơ thể. Ông mặc áo choàng đỏ, và trên đầu đội một vòng hoa bằng vàng đỏ, quanh đó tóc của ông được sắp xếp thành năm lọn (kuntalikehi), xõa xuống phía sau giống như trường hợp của một cậu bé trẻ tuổi (pañcacūḷikadārakaparihāren’eva).
Chính Pañcasikha là người đầu tiên nhận từ vị vua của cõi Cātummahārājika và các bộ trưởng của họ những báo cáo về những việc làm tốt của con người. Những báo cáo này, ông sẽ truyền lại cho Mātali, người đến lượt mình, lại trình bày chúng với Sakka (DNa.ii.650). Vào ngày Devorohaṇa, khi Đức Phật hạ giới từ cõi Tāvatiṁsa, Pañcasikha đã có mặt để tôn vinh Bậc Đạo Sư bằng bài hát và âm nhạc (Dhpa.iii.225; ANa.i.72; Vsm.392). Theo các truyền thuyết, ông cũng đã có mặt với Đức Phật trong những dịp khác (ví dụ, Mhv.xxx.75; xxxi.82).
Pañcasikha hiển nhiên không chỉ là tên của một người, mà còn là tên của một chức vụ (giống như Sakka), vì trong Biḷārikosiyajātaka (Ja 450, q.v.) Ānanda được cho là đã sinh ra làm Pañcasikha và đã giúp Sakka và những người khác để biến Bīlārakosiya thành một người hào phóng (Ja.iv.69). Tương tự, trong Sudhābhojanajātaka (Ja 535, q.v.), Anuruddha được đồng nhất với Pañcasikha. Ja.v.412.